Lê Trọng Quát - Luật sư
Viện Nhân Quyền Việt Nam - Vietnamese Institute for Human Rights - Lawyer Le Trong Quat
Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015
Hiến pháp và Nhân quyền
Hiến pháp và Nhân quyền
LS Lê Trọng Quát
Hơn ba năm sau khi Thế chiến
thứ hai chấm dứt, hình ảnh kinh hoàng của những vụ tàn sát hàng triệu sinh mạng
trên gần khắp địa cầu đã thôi thúc mọi người phải xác quyết và khẳng định thượng
tôn quyền của con người: sống tự do, an toàn, phẩm cách được tôn trọng, sự phát
triển và thăng tiến cá nhân được khuyến khích.
Với sự đồng tình tuyệt đối,
ngày 10 tháng 12, 1948, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Bản Tuyên Ngôn
Quốc tế Nhân quyền. Quyền thiêng liêng của con người đã được thế giới chính
thưc công nhận. Và từ đấy, nhân quyền lần lượt hiện diện trong hiến pháp của
các quốc gia thành viên trước đấy chưa quan tâm đến nhân quyền. Tuy nhiên, vài
ngoại lệ còn tồn tại với 5 chế độ cộng sản còn sót lại. Bất hạnh thay, trong số
này có quốc gia Việt Nam
dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa (VNXHCN) !
Giữa lúc trong gần hai trăm
quốc gia lớn nhỏ, hiến pháp và nhân quyền khắn khít với nhau như hình và bóng
thì tại VNXHCN cái gọi là hiến pháp nhất định không chấp nhận nhân quyền, bị
xem như khí giới của « thế lực thù địch ». Đòi hỏi nhân quyền sẽ bị
trừng trị, đánh đập. Tranh đấu cho nhân quyền sẽ chắc chắn vào tù . Tách
riêng một thiểu số đảng viên cộng sản, 90 triệu người Việt còn lại bị xem là
« thế lực thù địch » và cảm tình viên của thế lực thù
địch, được canh chừng cẩn mật. Mới hai năm trước đây, thừa dịp Nhà Nước
cộng sản « cho » dân bày tỏ ý kiến tu chính hiến pháp, dân
chúng không mấy tin nhưng vẫn đề nghị một số tu chính nhằm công nhận một số dân
quyền và nhân quyến căn bản, họ đã hoàn toàn thất vọng.
Cộng sản còn, dân quyền và
nhân quyền thực sự không có chỗ đứng trong hiến pháp. Vì vậy, không có cách nào
hơn để dân quyền và rộng hơn quyền thiêng liêng của con người được công
nhận và triệt để tôn trọng, là tranh đấu, tranh đấu cho đến cùng chứ không
thể « xin cho ».
Một mai, trong sự thành lập
tân chế độ hậu cộng sản, nhân quyền đương nhiên là một mối quan tâm hàng đầu
của các nhà lập hiến đặng hoàn thành một hiến pháp trong đó nhân quyền và dân
quyền sẽ được khai triển và ghi khắc như một đảm bảo vững chắc cho các quyền tự
do của mọi công dân Việt Nam từ Bắc chí Nam và cho nền dân chủ của nước Việt
Nam tương lai, hòa bình, tiến bộ.
Hiến pháp và Nhân quyền sẽ
không còn là hai đối thủ như dưới thời VNXHCN.
Hiến pháp và Nhân quyền sẽ quyện lại với nhau thành
nền tảng chính trị của một thời đại mới huy hoàng của dân tộc Việt Nam.
- Hiến pháp và hiến pháp
Mọi quốc gia đều có hiến
pháp: một bản văn quan trọng nhất thông thường trình bày đúc kết nền tảng triết
lý chính trị của quốc gia, xác định tổ chức các lãnh vực hành pháp, lập pháp,
tư pháp qua các định chế liên hệ, các chính sách quốc gia căn bản về
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, các quyền và bổn phận của công
dân, các nhân quyền phổ cập, sự điều hợp giữa các cơ cấu quốc gia…
Thế nhưng không phải hiến
pháp nào cũng giống nhau giữa các quốc gia. Qua giòng lịch sử thế giới,
chúng ta nhận thấy có hiến pháp của các quốc gia theo chế độ quân chủ chuyên
chế, quân chủ lập hiến, chế độ cộng hòa, chế độ cộng sản với những danh
xưng khác nhau ( Cộng Hòa Xã Hội Sô Viết gọi tắt Nga Sô, Cộng Hòa Nhân dân
Trung Hoa, Dân Chủ Nhân Dân các nước Đông Âu cũ và riêng Cộng sản Việt Nam với
hai danh xưng kế tiếp VN Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN ).
Riêng Vương Quốc Anh,
một nước dân chủ kỳ cựu nhất thế giới, đã từ 800 năm nay phát triển những
qui tắc có tính cách hiến định và luật hành chánh khởi nguồn từ hiến chương The
Magna Carta (1215) mà nhà vua John của Anh quốc buộc phải ký dưới áp lực của
một số quí tộc chống lại chính sách của Nhà vua áp đặt sưu thuế nặng nề, hạn
chế tự do cá nhân. Hiến chương The Magna Carta ban hành những điều có thể gọi
là dân quyền và nhân quyền đầu tiên trong lịch sử Anh quốc. Các luật lệ kế tiếp
được nghị viện thông qua tạo thành một thứ « hiến pháp không
thành văn » (constitution non écrite) độc đáo.
Trong lúc ấy, tám thế kỷ
sau, còn có những hiến pháp « thành văn » rõ ràng, được công bố
long trọng, ghi chú đầy đủ các điều khoản và nguyên tắc dân chủ, nhân quyền,
nhưng lại không được áp dụng hoặc chỉ được áp dụng phần nào.
Nhưng trên tất cả các sự
khác biệt, hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN)
năm 2013 đã tự tạo thành một hiện tượng khác thường sánh với non hai trăm nước không
cộng sản, khác thường vì:
1. ngay trong « Lời
nói đầu » của bản hiến pháp, các nhà lập hiến đã không dè dặt xác quyết : «
…………………………Thể chế hóa Cương Lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ………………….. » nghĩa là biến Cương Lĩnh của Đảng Cộng
sản Việt Nam
thành thể chế chính trị của quốc gia !
2. tiếp theo là điều 4 quái dị
đặt đảng cộng sản trên đầu quốc gia dân tộc : « Đảng
Cộng sản Việt Nam – đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiền phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, lấy chủ
nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng – là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội…………………………………………………………………………………………………….. ».
Nhân quyền và dân quyền
không thể và không còn chỗ đứng trong một hiến pháp như vậy, cưỡng đặt
một quốc gia dưới sự lãnh đạo của một đảng phái, lại còn tự nhận lệ thuộc một
chủ nghĩa ngọai lai và tệ hại hơn nữa, một chủ nghĩa đã bị đào thải ngay trong
hầu hết các nước đã áp dụng nó và phải trả giá đắt. Tổng cọng hơn một trăm
triệu sinh linh, theo tổng kết nghiêm chỉnh nhất của các tổ chức độc lập theo
dõi tiến trình phát triền của các quốc gia thuộc khối Cộng sản quốc tế kể từ
cuộc cách mạng bôn-sê-vít năm 1917 ở nước Nga và lan rộng nhiều vùng trên địa
cầu cho đến ngày Đế quốc Nga Sô và các chế độ chư hầu ở Đông Âu sụp đổ.
- Nhân quyền
Trước khi tóm lược lịch sử
của nhân quyền từ khi nhiều quốc gia đã thành hình trên địa cầu, thiết tưởng
cần nhắc lại rằng nhân quyền không phải là một ân huệ của bất cứ quyền
lực nào ban phát cho con người. Trong nhiều hệ thống luật pháp
hiện đại, ngay từ khi còn là một bào thai thành hình trong bụng mẹ, nó đã có
quyền trong di sản của người thân dành cho nó khi nó chào đời. Như từ ngữ đã rõ
ràng, nhân quyền hay quyền của con người, là một quyền tự nhiên, thiết
thân với con người. Từ mấy ngàn năm trước, các nhà triết học thời cổ La mã – Hy
lạp, Platon, Marc Aurèle… cũng như các văn bản tôn giáo, văn chương,
triết học qua các thời đại đều không nói khác.
Thế nhưng cần phải nhắc lại
vì vào thế kỷ thứ 21 này, vẫn có một số rất ít chế độ chính trị, đứng đầu là
các chế độ cộng sản còn sót lại sau cơn đại hồng thủy 1989-1991 quét sạch Khối
Cộng sản Nga Sô và Đông Âu, các chế độ cộng sản này tiếp tục xem nhân quyền như
một đặc quyền của họ mà dân chúng phải « xin cho ». Trước chính sách
bạo hành dân chúng mà Việt Nam XHCH là một trường hợp điển hình, có vài quốc
gia can thiệp một cách lịch sự nhưng gặp phải hoặc là lời hứa hẹn sẽ xem xét,
hoặc là phản đối và xem sự can thiệp như một hành vi xen lấn vào chủ
quyền của quốc gia, hay kỳ quái hơn nữa bảo rằng « nhân quyền của
nước tôi không phải như vậy nên không có gì phải quan tâm ……. » ! Lẽ
phải và lương tri không thể nào chấp nhận những luận cứ ngoan cố và vô ý thức
như vậy khi quyền của con người đã được công nhận từ nhiều ngàn năm lịch sử, kể
từ khi nhiều quốc gia và nhiều nền văn minh đã thành hình trên quả đất.
Thật vậy, năm 539 trước kỷ
nguyên Thiên Chúa, Cyrus Đại Đế (Cyrus le Grand) ở Ba –Tư (Perse) đã tạo nên
tiền lệ nhân quyền. Sau khi chiếm Babylone, bằng hành động rất ngoạn mục, Nhà
vua giải thoát tất cả người nô lệ và phán rằng tất cả mọi người đều có
quyền lựa chọn tôn giáo của mình, một thứ quyền rất quan trọng mà mãi đến
bây giờ, hơn hai mươi lăm thế kỷ sau, cộng sản vẫn không thực tình tôn trọng và
trên thực tế vẫn xử dụng mọi cách để chèn ép các tôn giáo, cướp đoạt tài sản
các giáo hội. Bản mẫu ghi khắc tuyên cáo của Cyrus Đại đế còn được lưu giữ và
quốc gia Iran tặng cho Liên Hiệp Quốc năm 1971 và LHQ đã chuyển ngữ ra tất cả các
ngôn ngữ chính thức.
Tuyên cáo của Cyrus Đại Đế
đã được công nhận là Tuyên ngôn Nhân Quyền đầu tiên của lịch sử loài người.
Mười tám thế kỷ sau, Hiến
chương The Magna Carta 1215 vừa là khuôn mẫu một hiến pháp như đã ghi trên,
đồng thời là một tuyên ngôn nhân quyền với sự ban bố những quyền đặc biệt tiến
bộ của con người vào thời bấy giờ như quyền của giáo hội (công giáo) sinh hoạt
tự do, chính quyền không được can thiệp vào sự sinh hoạt nội bộ của giáo hội,
quyền của mọi người dân tự do sở hữu tài sản và di sản và không bị đánh thuế
quá nặng, quyền của mọi người được xét xử đúng pháp luật và bình đẵng trước
công lý……..Đúng 800 năm sau hiến chương này, con người Việt Nam dưới chế độ xã
hội chủ nghĩa hiện thời có được hưởng những quyền thiết yếu ấy không ?!
Cũng tại Vương quốc Anh, năm
1628, Nghị Viện đã thông qua dưới triều vua Charles Đệ Nhất, một loạt các quyền
tự do dân sự làm nền tảng cho sự phát triển nhân quyền mà quan trọng nhất
là qui tắc habea corpus được thi hành năm 1679 dưới thời Charles Đệ
Nhị.Theo qui tắc quan trọng này, mọi sự giam giữ người phải được phép của vị(
thẩm phán để bảo đảm cho quyền tự do cá nhân. Qui tắc habea corpus
sẽ được liên tục áp dụng tại nhiều quốc gia cho đến bây giờ với vài chi tiết áp
dụng khác nhau mà thôi.
Một hế kỷ sau, nhân quyền
lại được thể hiện rõ nét trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 4 tháng 7, 1776 của
Hiệp- chủng -quốc Hoa Kỳ và trong hiến pháp 1787 của quốc gia này.
Cuộc cách mạng 1789 của Pháp
cũng đề cao nhân quyền trong bản « Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền », khẳng định rằng : « Mọi người sinh ra và lớn lên
tự do và bình đẳng trước pháp luật » và nhân quyền là những quyền bất khả triệt
tiêu (droits imprescriptibles) của con người có giá trị phổ cập trên toàn cầu.
Nhưng bước đột phá cuối cùng
mang tính chính thức là bản « Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền » ( la
Déclaration des Droits de l’Homme – The Universal Declaration of Human Rights )
được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10 tháng 12, 1948. Từ đấy,
hai Công ước quốc tế được sọan thảo và chấp thuận, kết hợp với bản Tuyên ngôn
quốc tế nhân quyền thành Bộ Luật quốc tế Nhân quyền ( Intrnational Bill of
Human Rights) :
1. Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
2. Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị
Hai công ước này được thông
qua năm 1966 và có hiệu lực thi hành năm 1976 sau khi được một số quốc gia chấp
nhận và phê chuẩn. Nhiều quốc gia còn tiếp tục phê chuẩn và rất nhiều văn kiện
kế tiếp khai triển các công ước trong nhiều lãnh vực từ những quyền tự do cá
nhân căn bản cho đến quyền dân tộc tự quyết, quyền lao động, sự cấm chỉ tra
tấn. v.v…
Nếu quả thật mục đích của
các tác giả đa-quốc gia và đầy thiện chí của Bộ Luật quốc tế nhân quyền đáng
kính phục vì lý tưởng tự do, dân chủ, vì sự tôn trọng giá trị siêu việt của con
người, vì lòng mong muốn xây dựng một thế giới an lạc hòa bình sau hai cuộc thế
chiến gây tang tóc cho một phần nhân loại thì tiếc thay, thực tế lại khá phủ
phàng. Một số quốc gia vẫn không áp dụng các quyền tự do căn bản của con người
dù đã ký kết vào tất cả ba văn bản ghi trên của Bộ Luật quốc tế Nhân Quyền.
Thậm chí có thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền, cơ quan tối cao của Liên Hiệp
Quốc về nhân quyền, lại là quốc gia vi phạm nhân quyền công khai và trắng trợn:
trường hợp Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa là một !
Vượt quá các quốc gia, quyền
của con người lại đang phải trải qua một thử thách mới do sự mù quáng của một
số tín đồ cực đoan của đạo Hồi, một tôn giáo lớn có mặt gần khắp địa cầu. Quyền
tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng đang bị đe dọa nghiêm trọng
ngay trong lòng các quốc gia Tây phương như vụ tàn sát các ký giả của tờ báo
Charlies Hebdo ở Pháp vừa qua và tiếp theo, tại thủ đô Đan Mạch với thiệt hại
nhẹ hơn vì hung thủ không dột nhập được vào hội trường, nơi đang diễn ra
một buổi thảo luận về quyền tự do phát biểu, tự do báo chi qua vụ Charlies
Hebdo ở Pháp.
Nhân quyền còn bị vùi đạp
man rợ hơn nữa tại vùng ranh giới Irak và Syrie. Một nhóm cực đoan chiếm cứ một
vùng ở đây, lợi dụng cuộc chiến chống chính quyền Syrie tại vùng tranh chấp này,
đã thành lập một « Quốc gia Hồi giáo Irak- Syrie » ( Islamic State of
Irak and Syria) áp dụng những cực hình làm lu mờ những cực hình của thời Trung
Cổ, như chặt đầu, thiêu sống nạn nhân mà một số bị chúng kết tội « tà
đạo » vì không cùng một tôn giáo với chúng.
Thiết tưởng trong những vụ
được gọi là khủng bố của hồi giáo cực đoạn đã và đang xẩy ra ở nhiều nơi, đặc
biệt ở Trung Đông, Phi Châu, Âu Châu, Úc, Gia nã đại, phần lớn nguyên do
bắt nguồn từ thái độ hận thù của khuynh hướng Hồi giáo cực đoan đối với
đạo Do Thái và Thiên Chúa giáo, trở thành đố kỵ và dị ứng với văn minh Tây
phương. Vụ quốc gia Israel
chiếm cứ lãnh thổ của Palestine
mà đa số dân chúng theo đạo Hồi, kéo dài hơn nữa thế kỷ nay trước sự bất lực
của cộng đồng thế giới càng khiến cho tâm lý hận thù thêm nặng nề. Tính mạng
của con người, quyền sống tự do, mưu cầu hạnh phúc bị thường xuyên đe dọa. Nhân
quyền không còn được coi trọng nữa trong bối cảnh của hận thù tập thể, của
cuồng tín mù quáng làm lu mờ lý trí, đánh mất lương tâm và lòng nhân đạo.
- Hiến Pháp và Nhân Quyền
Nếu lịch sử của nhân quyền
đang còn bị hoen ố bởi một số chế độ chính trị lỗi thời, lạc hậu đi ngược trào
lưu dân chủ tự do của thế giới và bởi sự cuồng tín mù quáng của một số quần
chúng trong vài quốc gia kém mở mang thì ngược lại, nhân quyền, nói chung, có
một vị trí đáng kể trong hiến pháp của đại đa số quốc gia và ngay cả trong sinh
hoạt dân chúng qua những tổ chức xã hội dân sự.
Trong mọi hiến pháp của các
nước tự do dân chủ, hầu hết các chương mục quan trọng đều thể hiện ý niệm nhân
quyền, từ nền tảng triết lý chính trị đến các chính sách quốc gia văn hóa, giáo
dục, xả hội, dân sinh, kinh tế, chính trị. Tất cả đều phải đồng qui về một mục
tiêu: phục vụ người dân, vì có dân mới có quốc gia, Nhà Nước, một nguyên lý đã
được đề cao gần 2400 năm trước : « Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh » (Mạnh Tử), chứ không phải đợi đến các chính khách, các luật gia hiến
pháp học bây giờ. Và quyền công dân chỉ là quyền của con người, một nhân quyền
được kiến trúc trong khuôn khổ một xã hội đã được tổ chức thành một quốc gia.
Sự hiện diện của đầy đủ nhân
quyền trong một hiến pháp chứng tỏ mức độ cao của nền dân chủ của quốc
gia ấy. Ngược lại, sự vắng bóng nhân quyền hay sự thiếu sót bảo đảm một cách
minh thị nhân quyền trong một hiến pháp tố cáo một chế độ chính trị mờ ám nếu
không phải là độc đoán, độc tài.
Các hiến pháp của các quốc
gia dân chủ có thể khác nhau về mô hình của thể chế nhưng nội dung về chất
lượng dân chủ, tự do, nhân quyền không khác biệt nhau đáng kể. Riêng về Việt Nam Cộng Hòa
trước 1975, chúng ta có hai hiến pháp của Đệ Nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, 1956 và
1967, đều theo tổng thống chế (régime présidentiel). Dù trong hoàn cảnh bạo
loạn và chiến tranh do cộng sản phát động, hai hiến pháp vẫn thể hiện đúng mức
dân chủ và nhân quyền. Vài hạn chế vì lý do an ninh và chống Cọng thực ra quá
ít so với tình thế lúc bấy giờ.
Nói chung, dù ở trong mô
hình nào kể trên, hiến pháp của các nước dân chủ hiện đại cũng dành cho nhân
quyền một vị trí hàng đầu thể hiện trong các quyền công dân căn bản bên cạnh những điều khoản
khác về thể chế chính trị, các chính sách quốc gia, tổ chức công quyền, sự hoạt
động của các định chế quốc gia .v.v…
Mọi đạo luật của cơ quan lập
pháp, mọi quyết định của hành pháp như sắc lệnh, nghị định .v.v… có thể bị Viện
Bảo Hiến hủy bỏ nếu vi phạm một điều khoản hay ngay cả tinh thần của hiến pháp.
Tại Hoa Kỳ, Tối cao Pháp viện Liên bang hành sử thẩm quyền của Viện Bảo Hiến
như vừa kể trên, nước Pháp và Việt Nam Cộng Hòa đều có một Viện Bảo Hiến riêng
biệt mà tổ chúc gần giống nhau. Một điều khỏan luật lệ vi phạm nhân quyền trái
với hiến pháp đều bị xem là vi hiến, phải bị hủy bỏ.
- Nhân quyền và quyền dân tộc tự quyết
Nhân quyền cũng là lẽ sống
của một con người. Tôn trọng nhân quyền là nhìn nhận giá trị siêu việt của con
người mà không một thế nhân nào, không một quyền bính nào có thể tước đoạt.
Nhân quyền không phải là một vật « xin, cho ». Ròng rã bốn mươi năm
nay, cuộc tranh đấu đòi lại nhân quyền không lúc nào ngưng nghỉ, chỉ khi yếu,
khi mạnh nhưng khí thế mãnh liệt hơn với thời gian. Vì sự sợ hãi cá nhân đã
nhường bước cho lòng can đảm tập thể. Vì phần lớn cộng đồng quốc tế đã can
thiệp với chính quyền cộng sản.
Nhưng tiếc thay, cộng sản
Việt Nam
vẫn ngoan cố chối cãi hoặc giải quyết vài trường hợp để khỏi làm mất mặt một
vài quốc gia mà chúng mang ơn. Kinh nghiệm ê chề này chắc chắc sẽ kéo dài vô
tận. Tiềm lực quốc gia suy yếu giữa lúc hiểm họa ngoại xâm ngày càng gia tăng.
Trước thế nước như vậy,
chiến lược tranh đấu cho nhân quyền phải thay đổi và phải lồng vào trong cuộc
tranh đấu giành lại quyền tự quyết của dân tộc. Vì sự sống chung nhân quyền với
một chế độ độc tài toàn trị là một nghịch lý tuyệt đối. Vì chỉ khi nào dân tộc
đã giành lại được quyền tự quyết của mình để thiết lập một thể chế chính trị
dân chủ, tự do thực sự thì nhân quyền mới được áp dụng và tôn trọng đúng mức,
thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của con người, thể chất và tâm linh.
Paris, tháng 3, 2015
LS Lê Trọng Quát
Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015
Thông điệp Dân Tộc Tự Quyết- Ất Mùi 2015

Thông điệp
Dân Tộc Tự Quyết- Ất Mùi 2015
Trân trọng kính gửi đông bào ở quê hương và hải ngoại
Đồng bào thân mến,
Thấm thoát đã bốn mươi năm từ ngày bức
màn sắt oan nghiệt bao trùm cả đất nước Việt Nam chúng ta sau khi Cọng quân hoàn tất cuộc
xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, Miền Nam thân yêu của Tổ Quốc
Hiệp định Paris 27 tháng 1, 1973 và Văn bản chung kết 2 tháng 3, 1973 nhằm chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền quốc gia căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam và đóng góp cùng bảo đảm nền hòa bình ở Đông Dương……..Hiệp Định cũng đồng thời bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam……….Văn bản chung kết ( Acte final ) ngày 2 tháng 3 , 1973 của Hiệp định minh thị sự cam kết bảo đảm các điều ghi trên đã được mười hai chính phủ ký kết gồm có đại diện của bốn phe tham chiến : Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam), Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ( Cộng sản Bắc Việt), Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN ( Việt Cọng, con đẻ của CSBV) và tám quốc gia : Anh quốc, Pháp, Gia – nả - đại, Ba lan, Hung-gia –lợi, Nam Dương, Nga –Sô và Trung Cọng, trước sự chứng giám của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.
Hiệp định Paris 27 tháng 1, 1973 và Văn bản chung kết 2 tháng 3, 1973 nhằm chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền quốc gia căn bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam và đóng góp cùng bảo đảm nền hòa bình ở Đông Dương……..Hiệp Định cũng đồng thời bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam……….Văn bản chung kết ( Acte final ) ngày 2 tháng 3 , 1973 của Hiệp định minh thị sự cam kết bảo đảm các điều ghi trên đã được mười hai chính phủ ký kết gồm có đại diện của bốn phe tham chiến : Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam), Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ( Cộng sản Bắc Việt), Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN ( Việt Cọng, con đẻ của CSBV) và tám quốc gia : Anh quốc, Pháp, Gia – nả - đại, Ba lan, Hung-gia –lợi, Nam Dương, Nga –Sô và Trung Cọng, trước sự chứng giám của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.
Hiệp định vừa được ký kết thì cộng sản
đã vi phạm tức thời từ những vụ lấn chiếm đất ở nhiều nơi đến những vụ tấn công
qui mô vào các vị trí quân sự và các tỉnh thị của Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng
chúng đã xâm chiếm Miền Nam ngày 30 tháng tư 1975 trước thái độ dững dưng hay bất
lực của các quốc gia ký kết Hiệp Định Paris và Liên Hiệp quốc.
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh
dũng chiến đấu đến phút cuối cùng với những tướng lãnh, sĩ quan , binh sĩ trong
quân đội cũng như trong các ngành Cảnh
sát, An Ninh tuẩn tiết, có cả trường hợp tuẩn tiết cùng với gia đình vợ con, chứ nhất định không để
rơi vào tay địch. Hành động bi hùng của các liệt sĩ này càng đáng được vinh
danh hơn nữa khi sự thật lịch sử đã sáng tỏ là quân lực ta không thể nào một
mình, sau khi đồng minh của chúng ta đã rút hết khỏi chiến trường, đương đầu được
với quân thù được cả khối cộng sản quốc
tế yểm trợ mọi mặt.
Quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam
và tất cả các quyền căn bản của toàn dân Việt mà Hiệp Định Paris xác định và
các quốc gia ký kết bảo đảm thực thi đã bị cưỡng đoạt bởi bạo lực cộng sản.
Nhưng bạo lực không thể tiêu hủy luật pháp quốc tế mà thế giới đã dày công xây
dựng và tôn trọng để đảm bảo an ninh, hòa bình và trật tự cho nhân loại văn
minh ngày nay. Một quốc gia muốn được tồn tại và phát triển điều hòa phải là một
quốc gia pháp trị. Một thế giới muốn được hòa bình và phát triển lâu dài cũng
phải thượng tôn luật pháp. Một nền luật pháp công minh được xây dựng trên căn bản
tôn trọng nghiêm chỉnh dân quyền và nhân quyền trong một quốc gia và tôn trọng
tuyệt đối quyền dân tộc tự quyết của một dân tộc trong cộng đồng thế giới. Thiếu
sự tôn trọng luật pháp quốc gia và quốc tế, luật rừng sẽ ngự trị như chúng ta
đang chứng kiến ngày nay trong một số quốc gia và trên nhiều vùng ở Âu, Á, Phi,
Trung Cận Đông.
Nạn nhân của bạo lực cộng sản trong
bảy mươi năm nay, dân tộc ta đã phải chịu quá nhiều tang tóc và khổ lụy. Xương
đã chất thành núi, máu đã chảy thành sông qua hai cuộc chiến tranh mà cộng sản
đã gây nên ( 1945-1954 và 1958-1975) dưới danh nghĩa dối trá chiến đấu cho độc
lập tự do. Kỳ thực, từ ngày Nhật bản đầu
hàng Đồng Minh giữa tháng tám 1945, chính phủ Nhật đã trao trả hoàn toàn độc lập
cho quốc gia Việt Nam do hoàng đế Bảo Đại thay mặt tiếp nhận. Cũng sau khi Thế
chiến thứ hai chấm dứt, các đế quốc Tây Phương đã lần lượt trao trả độc lập cho các nước lệ thuộc cũ ở Á
– Phi. Dưới danh hiệu Việt Minh ( Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội), cộng sản đã
cướp chính quyền,vua Bảo Đại phải thoái vị. Đến năm 1948, với thỏa ước Élysées, Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam
nhưng cộng sản vẫn tiếp tục đánh phá, luôn luôn nhằm mục đích nhuộm đỏ Việt Nam
và MIên, Lào. Từ tháng 10, 1949, sau khi
Mao Trạch Đông bá chủ lục địa Trung Hoa,
Cộng đảng Việt Nam thần phục hoàn toàn Trung Cọng, trở thành một hậu cứ
vĩ đại tiếp liệu và huấn luyện, trang bị, biến những nhóm quân ô hợp và yếu kém
của cộng sản VN thành một quân đội chính qui đến cấp trung đoàn, đại đoàn, sư
đoàn. Hậu quả khốc hại của sự thần phục và nương tựa này đã đưa lần đất nước đến
thảm trạng ngày nay : sự lệ thuộc của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam
với cộng sản Trung Hoa trên mọi mặt , giáo điều chủ nghĩa, kinh tế, thương
mãi, nhường đất, nhường biển, cho người Trung Hoa khai thác tài nguyên, lập
thành những khu vực tự trị ở nhiều nơi có tính cách chiến lược thiết yếu cho nền
quốc phòng Việt Nam. Thái độ luồn cúi của bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang
Thanh trước các nhà chức trách Trung Cọng khuôn rập với các lời tuyên bố của các lãnh đạo Cộng sản Việt
Nam không phải là những cử chỉ và ngôn từ ngoại giao mà thể hiện rõ ràng sự khuất phục
trước lãnh đạo Trung Cọng.
Hội nghị Thành Đô 1990 bị bật
mí bởi chính một số tướng lãnh, sĩ quan và đảng viên cộng sản lão thành tạo
thành một mối đe dọa lớn lao cho tổ quốc
bởi các nhà lãnh đạo cộng sản đã trả ơn cho Trung Cọng bằng sự chấp thuận
biến nước ta thành một đơn vị tự trị của Trung quốc trong cuối thập niên này. Đến
nay, đảng và chính phủ cộng sản Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa không công bố nội
dung của thỏa hiệp khiến cho toàn dân hết sức lo âu. Một ngàn năm Bắc thuộc vẫn
là một ám ảnh cực kỳ đen tối trong đầu óc chúng ta.
Trước tình hình nghiêm trọng của đất
nước, tôi thành khẩn kêu gọi đồng bào ở trong nước cũng như ở hải ngoại cùng
nhau đứng lên tranh đấu đòi Cộng đảng phải trả lại cho dân tộc quyền tự quyết
thiêng liêng để toàn dân xây dựng một chế độ dân chủ, tự do đích thực vì chỉ có
một chính quyền do dân bầu ra, sống chết vì dân với những người lãnh đạo tài
năng, đức độ sẳn sàng hy sinh cho tổ quốc mới huy động được toàn dân vào công
cuộc cứu nước và dựng nước. Chính từ đấy mà nước Việt nam tương lai mới có đủ
uy tín và khả năng liên kết với các quốc gia trong vùng Á Châu – Thái Bình
Dương đặng cùng nhau bảo vệ an ninh và hòa bình chung trong toàn vùng.
Tôi thành khẩn kêu gọi các nhà lãnh
đạo cộng sản trong nước đáp ứng nguyện vọng của toàn dân để hành sử như các nhà
lãnh đạo Nga Sô cũ, Gorbachev và Yelsine, tránh cho đất nước đã quá khổ đau, một
cuộc xung dột có thể là khốc liệt mà chính quý vị phải chịu hoàn toàn trách nhiệm
sau khi Cộng đảng của quí vi đã mang nặng trách nhiệm gây nên trong những thập
niên qua . Luật pháp và lịch sử sẽ phán xét nghiêm khắc quí vị.
Đồng hành với quốc dân, quí vị sẽ được
quốc dân tri ân. Một trang sử mới sẽ mở
ra với toàn dân đoàn kết thực sự để cứu nước và dựng nước, xóa bỏ hận thù, cầm
tay nhau mà tiến lên ca khúc khải hoàn cho Tổ quốc Việt Nam.
Thân ái kính chào đồng bào.
Thành thật kính chào qui vị.
LS Lê Trọng Quát
Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014
Từ Những Bài Học Đắt Giá Của Lịch Sử Cận Đại Đến Những Triển Vọng Của Tương Lai
Từ Những Bài Học Đắt Giá Của Lịch Sử Cận Đại Đến Những Triển Vọng Của Tương Lai
LS Lê Trọng Quát
Tháng
8 năm 1945, đệ nhị Thế chiến hoàn toàn chấm dứt từ Âu sang Á. Cuộc
chiến ác liệt kéo dài năm năm cùng với những hành động có tính cách diệt
chủng đã để lại không kể xiết điêu tàn tang tóc.
Nhiều
đô thị và trung tâm chiến lược ở Đức, Nga Sô và Nhật Bản đã trở thành
những bãi chiến trường đổ nát hay những cánh đồng ma quái với cả trăm
ngàn người chết cùng lúc dưới bom nguyên tử hay những trận mưa bom.
Nhưng rồi hoà bình đã đến. Nhân loại vừa thoát khỏi một cơn ác mộng dài
thở phào nhẹ nhỏm. Một bình minh rạng rỡ đang dâng lên chan hòa muôn ánh
hào quang và hy vọng như bừng sống lại khắp nơi. Ngoại trừ một chổ:
Việt Nam, nơi sự bất hạnh dồn tụ lại như bao nhiêu tảng mây đen cùng
nhau kéo đến che phủ một góc trời. Một nước Việt Nam trước đấy gần như đứng ngoài cuộc chiến. Thật
vậy, dù ác chiến diễn ra trên Thái Bính Dương giữa Mỹ, Nhật, Đông Dương
vẫn tương đối được yên ổn với thỉnh thoảng vài vụ oanh tạc nhỏ của
Không lực Hoa Kỳ vào các vị trì và đường giao thông bị nghi ngờ có quân
đội Nhật qua lại. Nay, giữa tháng tám 1945, Nhật Bản vừa đầu hàng,
chiến tranh thế giới hoàn toàn chấm dứt thì Việt Nam lại lên cơn sốt dữ
dội.. Toàn thân rung động vì chưa hồi phục được sau một nạn đói, chết
hơn cả triệu người ở Miền Bắc của đất nước. Một cơn sốt chính trị chưa
từng xảy ra vì cho đến bấy giờ dân Việt chưa có lúc nào được quyết định
số phận của mình trong suốt tám mươi năm dưới sự đô hộ của Pháp. Tháng
tám 1945, cuộc nội chiến Việt Nam bắt đầu. Cuộc nội chiến giữa hai phe
quốc cọng với cả khối Công sản quốc tế lần lượt đứng sau lưng cộng sản
Việt Nam như một hậu cứ vũng chắc và bền bỉ trong lúc vài nước Tây
phương đứng đầu là Hoa Kỳ hổ trợ phe quốc gia chiến đấu để bảo vệ tự do
cho dân tộc Việt Nam chống lại sự bành trướng của Đế quốc đỏ bằng bạo
lực của một cuộc xâm lăng công khai và trực diện. Ba mươi năm sau, đúng
ngày 30 tháng tư 1975, cuộc nội chiến chấm dứt trên bình diện quân sự.
Cộng sản hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam, thực hiện mục tiêu bá chủ nước
Việt Nam, khống chế cả bán đảo Đông Dương. Cũng đúng ba mươi năm sau
ngày thôn tính Miền Nam, cộng sản Việt Nam «trân quý» hơn bao giờ cả
những người Việt quốc gia ở hải ngọai, những «khúc ruột ở xa ngàn dặm»
đã đổ tiền về để cứu giúp đồng bào và quê hương nghèo khổ, có lúc gần
suy sụp dưới sự thống trị của họ. Những Việt kiều ở nước ngoài mà những
năm trước đây họ còn xem như thù địch và gán cho đủ mọi danh từ xấu xa
nhất trong kho tàng văn chương tuyệt vời của họ.
Ba
mươi năm nội chiến quốc cọng được tiếp tục bởi ba mươi năm của một cuộc
đổi đời và cuộc «đại chiến thắng mùa Xuân 1975» đã thành công lớn lao
trong sự nghiệp. đào được một cái hố sâu thăm thẳm để chôn vùi tương lai
của cả dân tộc. Không thể nào làm khác hơn, năm 1986, cộng sản buộc
lòng «đổi mớỉ » để mong thoát cảnh khốn cùng vô phương cứu chủa ngọai
trừ một phương độc nhất là chối bỏ chủ nghĩa của họ, một chủ nghĩa mà họ
đã thờ phụng và không ngần ngại hy sinh xương máu của đồng bào để phục
vụ cho đến khi mộng vỡ tan tành. Phương độc nhất ấy là chạy theo kẻ cựu
thù đế quốc tư bản, áp dụng chính sách kinh tế thị trường của chúng nó
và van xin đủ mọi thứ, khắp mọi nơi. Không theo không được vì đây là
sinh lộ cuối cùng sau khi con đường cách mạng, bạo lực và chiến tranh
kéo dài ba mươi năm mà đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đã rõ ràng là một
tử lộ cho toàn dân Việt. Đây là bài học lớn nhất, đắt giá nhất, dành
cho người cộng sản Việt Nam bên cạnh những bài học khác mà những người
quốc gia chúng ta cần suy nghiệm, và sau cùng, những bài học mà Hoa Kỳ
cũng như giới trí thức và ngụy trí thức tả khuynh Tây phương nên thành
khẩn và khiêm cung học hỏi để cho lịch sử đừng tái diễn, tránh được phần
nào khổ đau cho nhân loại.
I. NHỮNG BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ CẬN ĐẠI THEO THỨ TỰ THỜI GIAN CỦA CÁC BIẾN CỐ TỪ 1945
A- Giai Đoạn 1945 – 1954: Từ Độc Lập Đầu Tiên Đến Chia Đôi Đất Nước
Những Nét Chính Của Tình Hình :
1- Các Biến Cố Từ gần 9 giờ tối mồng 9 tháng 3, 1945, trên toàn cõi Đông Dương, quân đội Nhật (còn gọi là quân đội Thiên Hoàng) bất ngờ tấn công cùng lúc các cơ quan đầu não của chính quyền Pháp, các cơ sở quân sự, và cuộc kháng cự của quân Pháp không kéo dài quá một ngày ngọai trừ vài cánh quân thoát được sang Trung Hoa. Ngày 10 tháng 3, đại diện Nhật Hoàng, Đặc sứ Yokohama đến loan báo cho Vua Bảo Đại quyết định của Nhật trao hoàn độc lập cho Việt Nam, tạm thời giới hạn ở Bắc và Trung Kỳ, riêng Nam Kỳ thì Nhật tạm thời kiểm soát cho đến khi hết chiến tranh. Ngày 12 tháng 3, Vua Bảo Đại trao cho đặc sứ Nhật bản tuyên cáo độc lập của nước Việt Nam. Nhà Vua nhờ nhà chức trách Nhật tìm ông Ngô Đình Diệm để mời lập chính phủ nhưng sau ba tuần lễ, đặc sứ Nhật cho biết không tìm được. Thực ra, Nhật không muốn ông Diệm làm Thủ tướng vì biết chắc ông Diệm không phải là người dễ nhượng bộ, dễ thỏa hiệp, có thể gây trỏ ngại cho họ sau này. Ngày 17 tháng 4, ông Trần Trọng Kim , thanh tra tiểu học, lập chính phủ. Ông Kim bị Pháp dọa bắt nên được Nhật đưa sang Singapour tạm trú, nay được Nhật mang về giới thiệu với Vua Bảo Đại. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, qui tụ nhiều nhân vật trí thức khoa bảng như luật sư Trần văn Chương, Bộ trưởng Ngoại giao, luật sư Vũ văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, luật sư Trịnh đình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp, bác sĩ Hồ Tá Khanh, Bộ trưởng Kinh tế, Thạc sĩ Hoàng xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, Bộ trưởng Y tế và Cứu tế Xã hội, Kỹ sư Lưu văn Lang, Bộ trưởng Công chánh, Giao thông, y sĩ Trần đình Nam, Bộ trưởng Nội vụ, y sĩ Nguyễn hũu Thí, Bộ trưởng Tiếp tế. Ngày 16 tháng 8, đặc sứ Nhật đến loan báo cho Vua Bảo Đại hay Nhật Hoàng vừa ra lệnh ngưng chiến và giao hoàn Nam Kỳ lại cho Nhà Vua. Ngày hôm sau, nhà ái quốc Nguyễn văn Sâm được Nhà Vua bổ nhiệm làm Khâm sai Nam Kỳ nhưng trên đường về Nam nhậm chức, ông đã bị cộng sản sát hại. Ngày 18, Thủ tướng Trần Trọng Kim kêu gọi các đoàn thể chính trị « đoàn kết trong tinh thần thống nhất đoàn kết quốc gia…» trong lúc Nhà Vua gửi điện văn cho các lãnh tụ các nước Đồng Minh Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp và Trung Hoa Dân quốc xin công nhận nước Việt Nam độc lập. Bức điện văn không được hồi âm, có lẽ vì Vua Bảo Đại và chính phủ bị Đồng Minh xem là đã hợp tác với địch (Nhật Bản). Trong suốt mấy tuần lể quyết định này, giữa lúc cộng sản dưới bảng hiệu Việt Minh họat động ráo riết, đặc biệt ở Hà Nội, chính phủ không đưa ra một biện pháp nào cụ thể để trấn an dư luận đang hoang mang tột độ, cũng không tác động tinh thần công chức và các lực lượng quân sự và cảnh sát dưới quyền, dù không hùng hậu nhưng vẫn thừa sức đối phó với tình thế, chưa kể quân đội Nhật được lệnh của Đồng Minh duy trì an ninh trật tự sẵn sàng hợp tác với chính phủ. Không có được một mạng lưới tình báo, không hay biết gì cả về những họat động của Việt Minh, Nhà Vua và chính phủ mất tinh thần một cách dễ dàng trước những tin đồn đại do Việt Minh tung ra, qua những cán bộ « võ trang tuyên truyền », võ trang thô sơ với một ít súng lục, nhiều cái rỉ rét, thỉnh thỏang bị kẹt đan không xử dụng được. Không kiểm soát được, chính phủ « thả nổỉ » tình hình, đất nước như một cánh đồng vô chủ mênh mông! Theo lời của chính cựu Hoàng Bảo Đại kể lại một cách thành thật, thỉnh thoảng rất thật thà, trong cuốn hồi ký của ông, Con Rồng An Nam (Le Dragon d’Annam) xuất bản năm 1979 tại Pháp, ngày 23 tháng 8 (1945), chính phủ biến đâu mất, để Hoàng Đế một mình trong hoàng cung với vài người cộng sự thân tín và một toán lính giữ cổng ra vào. Ngày hôm trước, viên đại tá chỉ huy quân trấn Nhật ở Huế đến báo cho Nhà Vua là y được lệnh của bộ tư lệnh Đồng Minh bảo vệ hoàng cung và « những người ở bên trong » và y đã ban hành những biện pháp an ninh, đặt các rào cản ở cuối cầu trường Tiền (chận một lối đi chính vào cửa Thượng Tứ và Thành Nội, bên trong là hoàng cung). Nhà Vua từ chối sự bảo vệ, yêu cầu tháo gỡ các rào cản và cho mở cửa ra vào Đại Nội như thường ngày, viện cớ không để cho quân đội ngoại quốc can thiệp và để tránh đổ máu của dân. Tối hôm trước, chủ sự Bưu điện Huế đến trình Nhà Vua một bức điện tín từ Hà nội gửi vào, thỉnh cầu ông vui lòng làm một cử chỉ lịch sử bằng cách trao quyền lại cho «nhân dân» nghĩa là cho người gửi điện tín ký tên một cách vô danh «Ủy ban những người yêu nước đại diện tất cả các đảng phái và tầng lớp nhân dân». Nhà Vua cho hoàng thân Vĩnh Cẩn và ông Phạm khắc Hoè đi săn tin trong thành phố, nhưng không thu lượm được tin tức nào chính xác và không biết ủy ban, tác giả của bức điện tín ở đâu ra và gồm những ai. Bơ vơ trong hoàng cung vắng lặng, Nhà Vua kể tiếp, «không biết làm gì hơn, đã vậy, tôi gửi một điệp văn trong khoảng trống như vứt một cái chai xuống biển… Tôi gởi cho Ủy ban những người yêu nước ở Hà Nội lời phúc đáp của tôi, sẵn sàng lùi bước, sẵn sàng hy sinh tất cả để thực hiện sự đoàn kết và yêu cầu các vị lãnh đạo Ủy ban đến Huế càng sớm càng tốt cho việc chuyển giao quyền hành». Cái chai của Hoàng Đế vứt xuống biển đã được vớt lên lẹ làng và chiều ngày 25 tháng 8, hai đại diện của Việt Minh, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đã có mặt ở hoàng cung. Khoảng vài nghìn người, hầu hết là công chức và học sinh, được triệu tập khẩn cấp đến chứng kiến buổi lê thoái vị và trao quyền của Nhà Vua. Mới mười lăm tuổi, còn là học sinh trung học, gia đình tôi ở trong Thành Nội cách hoàng cung chỉ một trăm mét trên đường Bộ Học, sau này đổi thành Hàn Thuyên, nên tôi sớm có mặt trong đám đông tập họp trên sân cỏ rộng giữa kỳ đài đồ sộ với lá quốc kỳ treo cao lồng lộng trong gió, và cửa Ngọ Môn, cổng chính của hoàng cung, trên đó, chiều nay, một biến cố lịch sử đang xẩy ra, mở màn cho tấn thảm kịch trường thiên của dân tộc. Chít khăn vàng và bận áo vàng, Hoàng Đế Bảo Đại chính thức thoái vị trao quốc ấn tượng trưng quyền hành cho Trần huy Liệu và được Liệu mời ra Hà Nội làm Cố Vấn cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chính thức ra đời một tuần lể sau, tức ngày 2 tháng 9, 1945. Thật vậy, tấn trường thiên thảm kịch của dân tộc bắt đầu tại cố đô Huế. Hai mặt đông và nam của hoàng cung, hoa phượng vỹ thơ mộng của tuổi học trò nở đầy giữu mùa hè xứ Huế, thơ mộng dịu dàng với mái tóc thề của những đàng nữ sinh nón trắng che mặt thẹn thùng như những đàng bướm trắng tung bay mổi chiều tan học. Màu đỏ thắm của hoa phượng vỹ đã phải nhường chổ cho màu đỏ máu hận thù của những lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở Huế, từ nay mang trổ lại tên Thuận Hóa, cái tên mà Nhà Nguyễn đã đặt cho thành phố này từ mấy thế kỷ và nay như một sự rểu cợt hay thiếu hiểu biết, cộng sản Việt Minh lại mang ra xử dụng khi Nhà Nguyễn vừa tự chấm dứt với sự thoái vị của Nhà Vua cuối cùng, Bảo Đại. Tháng 9, 1945, quân Pháp trổ lại Việt Nam ngay tại Sài Gòn. Chiến cuộc khởi sự. Dù nước Pháp đã công bố một chính sách mới thay thế qui chế thuộc địa (statut de colonie)ở Nam Kỳ và qui chế bảo hộ (statut de protectorat) ở Bắc và Trung Kỳ bằng một qui chế tương đối tiến bộ hơn dành quyền tự trị nội bộ (autonomie interne) – không được trọn vẹn- cho các quốc gia Việt, Căm-bốt và Lào, chính sách mới này vẫn còn lạc hậu trong tình huống mới ở Việt Nam mà chính phủ và hầu hết các giới chính trị Pháp ở thủ đô Paris kể cả phe tả không thẩm định đúng mức được. Từ ngày 9 tháng 3, 1945 khi chính quyền Pháp bị quân Nhật lật đổ, không những uy quyền mà uy tín của nước Pháp cũng tiêu tan luôn. Dân chúng Việt Nam, muôn người như một, trong đầu hôm sớm mai, và nhất là sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh , trao trả độc lập và chủ quyền hoàn toàn cho Hoàng Đế và chính phủ Việt Nam như đã kể trước, dân chúng từ Bắc đến Nam đều say sưa với niềm hãnh diện của đất nước mình, của tổ quốc mình từ nay không bị một ngoại bang nào lấn ép và khinh rẽ nữa, một tổ quốc, một quốc gia độc lập,tự chủ. Sự kiện quân đoàn viễn chinh Pháp trổ lại Việt Nam được xem như một mưu toan tái lập nền đô hộ củ. Toàn dân, không còn phân biệt xu hướng chính trị, nhất loạt đứng lên đoàn kết chống xâm lăng. Vừa thành lập xong chính phủ được đúng ba tuần lể, Việt Minh cộng sản đã hưởng được ngay cái khí thế chưa bao giờ có của mọi tầng lớp dân chúng quyết tâm đánh đuổi quân thù. Không ai còn để ý đến những chuyện khác nữa. Cuộc kháng chiến chống Pháp thực dân khởi sự từ Nam Bộ (danh xưng mới thay thế cho Nam Kỳ dưới chế độ mới) khi quân đội Pháp phối hợp với quân đội Anh -đến giải giới quân Nhật ở vùng Nam Đông Dương- bất thần xâm nhập các công sở của Ủy Ban Hành chánh Nam Bộ vào tối 22 rạng ngày 23 tháng 9, 1945. Phản ứng của phía Việt Nam hai ngày sau châm ngòi cho một cuộc chiến không tránh được giữa Pháp và Việt Nam. Đến tối 19 tháng 12 năm sau, chiến tranh lan rộng trên toàn quốc. Chính phủ Hồ Chí Minh rút vào rừng tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đấu. Trước đấy, ông Hồ đã ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, 1946 cho phép quân đội Pháp đóng quân trên nhiều địa điểm ở Miền Bắc, đổi lại Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, một thành viên của Liên bang Đông Dương (Fédération Indochinoise) và của Khối Liên Hiệp Pháp (Union Française). Thế nhưng lịch sử của cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam, thường được gọi là Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) không đơn giản như nhiều người nhận thấy. Tôi đã ghi chú từ đầu cuộc chiến tranh ba – mươi năm (1945-1975) là một cuộc nội chiến giữ hai phe quốc cọng.Một cuộc nội chiến giữa những người Việt theo chủ nghĩa cộng sản muốn nhuộm đỏ đất nước Việt Nam từ khi đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập năm 1930, và những người Việt quốc gia không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, quyết tâm tranh đấu bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Sự tham dự của ngoại bang,Pháp,Mỹ,Tàu,Nga v.v….không làm mất tính chất nội chiến này mà chỉ mang thêm, với sự hổ trợ của ngoại bang dành cho mổi phe dài dài theo cuộc chiến, một tính chất chiến lược quốc tế, tóm gọn: cộng sản muốn bành trướng Đế quốc Đỏ xuống miền Đông Nam Á Châu với tên lính tiền phong cộng sản Việt Nam và ngược lại, Thế giới Tự do đứng đầu là Hoa Kỳ muốn ngăn chận làn sóng đỏ ở biên thùy Việt-Hoa sau khi Mao Trạch Đông đã chiếm lĩnh Trung quốc cuối năm 1949. Riêng đối với Pháp, cần phải phân tách cuộc tham chiến ở Việt Nam ra hai giai đoạn. Giai đoạn một , từ lúc trở lại Đông Dương tháng 9, 1945 cho đến giữa năm 1947 họ mong muốn bằng sức mạnh hơn là thuyết phục lôi cuốn Việt Nam vào Liên Bang Đông Dương như một nước tự trị và giai đoạn hai từ 1948 trở đi, càng ngày càng lún sâu vào cuộc chiến họ chỉ còn mong Việt Nam ở lại trong Khối Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết (Etat associé) độc lập, tự do, một công thức tương tự với «Khối thịnh vượng chung» (Commonwealth) qui tụ trên nguyên tắc tự nguyện Anh quốc và những thuộc địa cũ của Đế quốc Anh ngày trước nay đã được trao trả độc lập mà không phải trải qua một cuộc chiến tranh nào cả. Đây là một điểm hết sức quan trọng cần nhấn mạnh trong lịch sử cận đại của thế giới : sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, hầu hết các nước bị trị của các đế quốc Tây phương đều được lần lượt trao trả độc lập mà không phải phí phạm xương máu, ở Á Châu như Hàn quốc, Nam Dưong, Phi-luật-Tân, Mã Lai, Tân-gia-Ba, Ấn Độ, ở Trung Cận Đông, lần lượt đến các nước Phi Châu ngoại trừ Algérie với những ly do riêng của trường hợp này, nơi mà nhiều thế hệ người Pháp đã định cư, lập nghiệp và từ hơn cả thế kỷ Pháp đã xem như một lãnh thổ, một tỉnh của họ! Đối với Việt Nam, nền độc lập đã được trao trả dù chưa toàn vẹn ngay trước cả khi chiến tranh chấm dứt và giữa tháng 8, 1945 vừa đầu hàng Đồng Minh hôm trước, hôm sau Nhật Bản giao trả nốt Nam Kỳ cho Vua và chính phủ Việt Nam như đã trình bày. Cái gọi là «cách mạng mùa thu 1945» của Cộng sản Việt Nam dưới bảng hiệu Việt Minh chỉ là một vụ đảo chính chính trị dành lấy chính quyền từ một nhà Vua và một chính phủ khiếp nhược Cuộc chiến tranh kế tiếp hoàn toàn không phải là một cuộc chiến tranh dành độc lập vì, như đã trình bày, Việt Nam đã được độc lập rồi và khi quân Pháp trở lại Đông Dương, nếu Vua Bảo Đại và chính phủ của Nhà Vua còn tồn tại, thì chắc chắn sẽ có những cuộc thương nghị rất khó khăn với Pháp nhưng chung cuộc, Việt Nam vẫn duy trì nền độc lập và rất co thể gia nhập Khối Liên Hiệp Pháp lúc bấy giờ.Tiến trìng giải thể các đế quốc Tây phương đã được các nước Đồng Minh chấp nhận trước khi thế chiến chấm dứt và nước đồng minh quan trọng nhất là Hoa Kỳ, đang còn dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Roosevelt, rất cương quyết trong dự định này, nhất là đối với Đông Dương mà Roosevelt quan tâm đặc biệt và nhiều lúc còn nặng lời nhắc nhỡ nước Pháp. Đây là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn của thái độ của nước Pháp, đồng minh nhưng không thân thiện với Hoa Kỳ. Nhưng từ năm 1950, trước làn sóng đỏ đã tràn đến biên giới Việt-Hoa,cuộc chiến hoàn toàn thay đổi tính chất và Hoa Kỳ san sẻ gánh nặng bằng quân cụ, vũ khí đủ loại và tài chánh cho chính phủ Pháp để tăng cường lực lượng chiến đấu chống cộng sản ở Đông Dương trước một kẻ địch bổng nhiên mạnh hẳn lên do sự hổ trợ không giới hạn của Mao trâch Đông. Trung Cọng trở thành một hậu cứ vĩ đại cho Việt Minh. Chiến tranh du kích đã trở thành thứ yếu. Được huấn luyện, trang bị và tiếp liệu đầy đủ, lực lượng quân sự của Việt Minh đã bước vào giai đoạn trận địa chiến đến cấp trung đoàn,tiến lần đến đại đoàn, sư đoàn. Về phía quốc gia, các lực lượng quân sự cũng được tổ chức qui mô. Quân đội quốc gia Việt Nam được thành lập lanh chóng và chiến đấu bên cạnh quân đội Liên Hiệp Pháp ở nhiều mặt trận, đồng thời đảm nhận phần lớn nhiệm vụ bảo vệ diện địa. Cuộc chiến chấm dứt với hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 phân chia tạm thời Việt Nam thành hai miền Bắc Nam như chúng ta đã biết với sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Cộng sản đã chiếm được một nửa đất nước. Dù được tự do lựa chọn, không một thường dân nào ở miền Nam ra miền Bắc trong lúc một triệu đồng bào từ Bắc di cư vào Nam để được sống dưới chế độ tự do, một cuộc di cư lớn lao thực hiện trong vòng mười tháng như chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Bức màn sắt đã hạ xuống trên miền Băc thân yêu của tổ quốc.
1- Các Biến Cố Từ gần 9 giờ tối mồng 9 tháng 3, 1945, trên toàn cõi Đông Dương, quân đội Nhật (còn gọi là quân đội Thiên Hoàng) bất ngờ tấn công cùng lúc các cơ quan đầu não của chính quyền Pháp, các cơ sở quân sự, và cuộc kháng cự của quân Pháp không kéo dài quá một ngày ngọai trừ vài cánh quân thoát được sang Trung Hoa. Ngày 10 tháng 3, đại diện Nhật Hoàng, Đặc sứ Yokohama đến loan báo cho Vua Bảo Đại quyết định của Nhật trao hoàn độc lập cho Việt Nam, tạm thời giới hạn ở Bắc và Trung Kỳ, riêng Nam Kỳ thì Nhật tạm thời kiểm soát cho đến khi hết chiến tranh. Ngày 12 tháng 3, Vua Bảo Đại trao cho đặc sứ Nhật bản tuyên cáo độc lập của nước Việt Nam. Nhà Vua nhờ nhà chức trách Nhật tìm ông Ngô Đình Diệm để mời lập chính phủ nhưng sau ba tuần lễ, đặc sứ Nhật cho biết không tìm được. Thực ra, Nhật không muốn ông Diệm làm Thủ tướng vì biết chắc ông Diệm không phải là người dễ nhượng bộ, dễ thỏa hiệp, có thể gây trỏ ngại cho họ sau này. Ngày 17 tháng 4, ông Trần Trọng Kim , thanh tra tiểu học, lập chính phủ. Ông Kim bị Pháp dọa bắt nên được Nhật đưa sang Singapour tạm trú, nay được Nhật mang về giới thiệu với Vua Bảo Đại. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, qui tụ nhiều nhân vật trí thức khoa bảng như luật sư Trần văn Chương, Bộ trưởng Ngoại giao, luật sư Vũ văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, luật sư Trịnh đình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp, bác sĩ Hồ Tá Khanh, Bộ trưởng Kinh tế, Thạc sĩ Hoàng xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, Bộ trưởng Y tế và Cứu tế Xã hội, Kỹ sư Lưu văn Lang, Bộ trưởng Công chánh, Giao thông, y sĩ Trần đình Nam, Bộ trưởng Nội vụ, y sĩ Nguyễn hũu Thí, Bộ trưởng Tiếp tế. Ngày 16 tháng 8, đặc sứ Nhật đến loan báo cho Vua Bảo Đại hay Nhật Hoàng vừa ra lệnh ngưng chiến và giao hoàn Nam Kỳ lại cho Nhà Vua. Ngày hôm sau, nhà ái quốc Nguyễn văn Sâm được Nhà Vua bổ nhiệm làm Khâm sai Nam Kỳ nhưng trên đường về Nam nhậm chức, ông đã bị cộng sản sát hại. Ngày 18, Thủ tướng Trần Trọng Kim kêu gọi các đoàn thể chính trị « đoàn kết trong tinh thần thống nhất đoàn kết quốc gia…» trong lúc Nhà Vua gửi điện văn cho các lãnh tụ các nước Đồng Minh Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp và Trung Hoa Dân quốc xin công nhận nước Việt Nam độc lập. Bức điện văn không được hồi âm, có lẽ vì Vua Bảo Đại và chính phủ bị Đồng Minh xem là đã hợp tác với địch (Nhật Bản). Trong suốt mấy tuần lể quyết định này, giữa lúc cộng sản dưới bảng hiệu Việt Minh họat động ráo riết, đặc biệt ở Hà Nội, chính phủ không đưa ra một biện pháp nào cụ thể để trấn an dư luận đang hoang mang tột độ, cũng không tác động tinh thần công chức và các lực lượng quân sự và cảnh sát dưới quyền, dù không hùng hậu nhưng vẫn thừa sức đối phó với tình thế, chưa kể quân đội Nhật được lệnh của Đồng Minh duy trì an ninh trật tự sẵn sàng hợp tác với chính phủ. Không có được một mạng lưới tình báo, không hay biết gì cả về những họat động của Việt Minh, Nhà Vua và chính phủ mất tinh thần một cách dễ dàng trước những tin đồn đại do Việt Minh tung ra, qua những cán bộ « võ trang tuyên truyền », võ trang thô sơ với một ít súng lục, nhiều cái rỉ rét, thỉnh thỏang bị kẹt đan không xử dụng được. Không kiểm soát được, chính phủ « thả nổỉ » tình hình, đất nước như một cánh đồng vô chủ mênh mông! Theo lời của chính cựu Hoàng Bảo Đại kể lại một cách thành thật, thỉnh thoảng rất thật thà, trong cuốn hồi ký của ông, Con Rồng An Nam (Le Dragon d’Annam) xuất bản năm 1979 tại Pháp, ngày 23 tháng 8 (1945), chính phủ biến đâu mất, để Hoàng Đế một mình trong hoàng cung với vài người cộng sự thân tín và một toán lính giữ cổng ra vào. Ngày hôm trước, viên đại tá chỉ huy quân trấn Nhật ở Huế đến báo cho Nhà Vua là y được lệnh của bộ tư lệnh Đồng Minh bảo vệ hoàng cung và « những người ở bên trong » và y đã ban hành những biện pháp an ninh, đặt các rào cản ở cuối cầu trường Tiền (chận một lối đi chính vào cửa Thượng Tứ và Thành Nội, bên trong là hoàng cung). Nhà Vua từ chối sự bảo vệ, yêu cầu tháo gỡ các rào cản và cho mở cửa ra vào Đại Nội như thường ngày, viện cớ không để cho quân đội ngoại quốc can thiệp và để tránh đổ máu của dân. Tối hôm trước, chủ sự Bưu điện Huế đến trình Nhà Vua một bức điện tín từ Hà nội gửi vào, thỉnh cầu ông vui lòng làm một cử chỉ lịch sử bằng cách trao quyền lại cho «nhân dân» nghĩa là cho người gửi điện tín ký tên một cách vô danh «Ủy ban những người yêu nước đại diện tất cả các đảng phái và tầng lớp nhân dân». Nhà Vua cho hoàng thân Vĩnh Cẩn và ông Phạm khắc Hoè đi săn tin trong thành phố, nhưng không thu lượm được tin tức nào chính xác và không biết ủy ban, tác giả của bức điện tín ở đâu ra và gồm những ai. Bơ vơ trong hoàng cung vắng lặng, Nhà Vua kể tiếp, «không biết làm gì hơn, đã vậy, tôi gửi một điệp văn trong khoảng trống như vứt một cái chai xuống biển… Tôi gởi cho Ủy ban những người yêu nước ở Hà Nội lời phúc đáp của tôi, sẵn sàng lùi bước, sẵn sàng hy sinh tất cả để thực hiện sự đoàn kết và yêu cầu các vị lãnh đạo Ủy ban đến Huế càng sớm càng tốt cho việc chuyển giao quyền hành». Cái chai của Hoàng Đế vứt xuống biển đã được vớt lên lẹ làng và chiều ngày 25 tháng 8, hai đại diện của Việt Minh, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đã có mặt ở hoàng cung. Khoảng vài nghìn người, hầu hết là công chức và học sinh, được triệu tập khẩn cấp đến chứng kiến buổi lê thoái vị và trao quyền của Nhà Vua. Mới mười lăm tuổi, còn là học sinh trung học, gia đình tôi ở trong Thành Nội cách hoàng cung chỉ một trăm mét trên đường Bộ Học, sau này đổi thành Hàn Thuyên, nên tôi sớm có mặt trong đám đông tập họp trên sân cỏ rộng giữa kỳ đài đồ sộ với lá quốc kỳ treo cao lồng lộng trong gió, và cửa Ngọ Môn, cổng chính của hoàng cung, trên đó, chiều nay, một biến cố lịch sử đang xẩy ra, mở màn cho tấn thảm kịch trường thiên của dân tộc. Chít khăn vàng và bận áo vàng, Hoàng Đế Bảo Đại chính thức thoái vị trao quốc ấn tượng trưng quyền hành cho Trần huy Liệu và được Liệu mời ra Hà Nội làm Cố Vấn cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chính thức ra đời một tuần lể sau, tức ngày 2 tháng 9, 1945. Thật vậy, tấn trường thiên thảm kịch của dân tộc bắt đầu tại cố đô Huế. Hai mặt đông và nam của hoàng cung, hoa phượng vỹ thơ mộng của tuổi học trò nở đầy giữu mùa hè xứ Huế, thơ mộng dịu dàng với mái tóc thề của những đàng nữ sinh nón trắng che mặt thẹn thùng như những đàng bướm trắng tung bay mổi chiều tan học. Màu đỏ thắm của hoa phượng vỹ đã phải nhường chổ cho màu đỏ máu hận thù của những lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở Huế, từ nay mang trổ lại tên Thuận Hóa, cái tên mà Nhà Nguyễn đã đặt cho thành phố này từ mấy thế kỷ và nay như một sự rểu cợt hay thiếu hiểu biết, cộng sản Việt Minh lại mang ra xử dụng khi Nhà Nguyễn vừa tự chấm dứt với sự thoái vị của Nhà Vua cuối cùng, Bảo Đại. Tháng 9, 1945, quân Pháp trổ lại Việt Nam ngay tại Sài Gòn. Chiến cuộc khởi sự. Dù nước Pháp đã công bố một chính sách mới thay thế qui chế thuộc địa (statut de colonie)ở Nam Kỳ và qui chế bảo hộ (statut de protectorat) ở Bắc và Trung Kỳ bằng một qui chế tương đối tiến bộ hơn dành quyền tự trị nội bộ (autonomie interne) – không được trọn vẹn- cho các quốc gia Việt, Căm-bốt và Lào, chính sách mới này vẫn còn lạc hậu trong tình huống mới ở Việt Nam mà chính phủ và hầu hết các giới chính trị Pháp ở thủ đô Paris kể cả phe tả không thẩm định đúng mức được. Từ ngày 9 tháng 3, 1945 khi chính quyền Pháp bị quân Nhật lật đổ, không những uy quyền mà uy tín của nước Pháp cũng tiêu tan luôn. Dân chúng Việt Nam, muôn người như một, trong đầu hôm sớm mai, và nhất là sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh , trao trả độc lập và chủ quyền hoàn toàn cho Hoàng Đế và chính phủ Việt Nam như đã kể trước, dân chúng từ Bắc đến Nam đều say sưa với niềm hãnh diện của đất nước mình, của tổ quốc mình từ nay không bị một ngoại bang nào lấn ép và khinh rẽ nữa, một tổ quốc, một quốc gia độc lập,tự chủ. Sự kiện quân đoàn viễn chinh Pháp trổ lại Việt Nam được xem như một mưu toan tái lập nền đô hộ củ. Toàn dân, không còn phân biệt xu hướng chính trị, nhất loạt đứng lên đoàn kết chống xâm lăng. Vừa thành lập xong chính phủ được đúng ba tuần lể, Việt Minh cộng sản đã hưởng được ngay cái khí thế chưa bao giờ có của mọi tầng lớp dân chúng quyết tâm đánh đuổi quân thù. Không ai còn để ý đến những chuyện khác nữa. Cuộc kháng chiến chống Pháp thực dân khởi sự từ Nam Bộ (danh xưng mới thay thế cho Nam Kỳ dưới chế độ mới) khi quân đội Pháp phối hợp với quân đội Anh -đến giải giới quân Nhật ở vùng Nam Đông Dương- bất thần xâm nhập các công sở của Ủy Ban Hành chánh Nam Bộ vào tối 22 rạng ngày 23 tháng 9, 1945. Phản ứng của phía Việt Nam hai ngày sau châm ngòi cho một cuộc chiến không tránh được giữa Pháp và Việt Nam. Đến tối 19 tháng 12 năm sau, chiến tranh lan rộng trên toàn quốc. Chính phủ Hồ Chí Minh rút vào rừng tiếp tục lãnh đạo cuộc chiến đấu. Trước đấy, ông Hồ đã ký Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3, 1946 cho phép quân đội Pháp đóng quân trên nhiều địa điểm ở Miền Bắc, đổi lại Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do, một thành viên của Liên bang Đông Dương (Fédération Indochinoise) và của Khối Liên Hiệp Pháp (Union Française). Thế nhưng lịch sử của cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam, thường được gọi là Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) không đơn giản như nhiều người nhận thấy. Tôi đã ghi chú từ đầu cuộc chiến tranh ba – mươi năm (1945-1975) là một cuộc nội chiến giữ hai phe quốc cọng.Một cuộc nội chiến giữa những người Việt theo chủ nghĩa cộng sản muốn nhuộm đỏ đất nước Việt Nam từ khi đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập năm 1930, và những người Việt quốc gia không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, quyết tâm tranh đấu bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Sự tham dự của ngoại bang,Pháp,Mỹ,Tàu,Nga v.v….không làm mất tính chất nội chiến này mà chỉ mang thêm, với sự hổ trợ của ngoại bang dành cho mổi phe dài dài theo cuộc chiến, một tính chất chiến lược quốc tế, tóm gọn: cộng sản muốn bành trướng Đế quốc Đỏ xuống miền Đông Nam Á Châu với tên lính tiền phong cộng sản Việt Nam và ngược lại, Thế giới Tự do đứng đầu là Hoa Kỳ muốn ngăn chận làn sóng đỏ ở biên thùy Việt-Hoa sau khi Mao Trạch Đông đã chiếm lĩnh Trung quốc cuối năm 1949. Riêng đối với Pháp, cần phải phân tách cuộc tham chiến ở Việt Nam ra hai giai đoạn. Giai đoạn một , từ lúc trở lại Đông Dương tháng 9, 1945 cho đến giữa năm 1947 họ mong muốn bằng sức mạnh hơn là thuyết phục lôi cuốn Việt Nam vào Liên Bang Đông Dương như một nước tự trị và giai đoạn hai từ 1948 trở đi, càng ngày càng lún sâu vào cuộc chiến họ chỉ còn mong Việt Nam ở lại trong Khối Liên Hiệp Pháp với tư cách một quốc gia liên kết (Etat associé) độc lập, tự do, một công thức tương tự với «Khối thịnh vượng chung» (Commonwealth) qui tụ trên nguyên tắc tự nguyện Anh quốc và những thuộc địa cũ của Đế quốc Anh ngày trước nay đã được trao trả độc lập mà không phải trải qua một cuộc chiến tranh nào cả. Đây là một điểm hết sức quan trọng cần nhấn mạnh trong lịch sử cận đại của thế giới : sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, hầu hết các nước bị trị của các đế quốc Tây phương đều được lần lượt trao trả độc lập mà không phải phí phạm xương máu, ở Á Châu như Hàn quốc, Nam Dưong, Phi-luật-Tân, Mã Lai, Tân-gia-Ba, Ấn Độ, ở Trung Cận Đông, lần lượt đến các nước Phi Châu ngoại trừ Algérie với những ly do riêng của trường hợp này, nơi mà nhiều thế hệ người Pháp đã định cư, lập nghiệp và từ hơn cả thế kỷ Pháp đã xem như một lãnh thổ, một tỉnh của họ! Đối với Việt Nam, nền độc lập đã được trao trả dù chưa toàn vẹn ngay trước cả khi chiến tranh chấm dứt và giữa tháng 8, 1945 vừa đầu hàng Đồng Minh hôm trước, hôm sau Nhật Bản giao trả nốt Nam Kỳ cho Vua và chính phủ Việt Nam như đã trình bày. Cái gọi là «cách mạng mùa thu 1945» của Cộng sản Việt Nam dưới bảng hiệu Việt Minh chỉ là một vụ đảo chính chính trị dành lấy chính quyền từ một nhà Vua và một chính phủ khiếp nhược Cuộc chiến tranh kế tiếp hoàn toàn không phải là một cuộc chiến tranh dành độc lập vì, như đã trình bày, Việt Nam đã được độc lập rồi và khi quân Pháp trở lại Đông Dương, nếu Vua Bảo Đại và chính phủ của Nhà Vua còn tồn tại, thì chắc chắn sẽ có những cuộc thương nghị rất khó khăn với Pháp nhưng chung cuộc, Việt Nam vẫn duy trì nền độc lập và rất co thể gia nhập Khối Liên Hiệp Pháp lúc bấy giờ.Tiến trìng giải thể các đế quốc Tây phương đã được các nước Đồng Minh chấp nhận trước khi thế chiến chấm dứt và nước đồng minh quan trọng nhất là Hoa Kỳ, đang còn dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Roosevelt, rất cương quyết trong dự định này, nhất là đối với Đông Dương mà Roosevelt quan tâm đặc biệt và nhiều lúc còn nặng lời nhắc nhỡ nước Pháp. Đây là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn của thái độ của nước Pháp, đồng minh nhưng không thân thiện với Hoa Kỳ. Nhưng từ năm 1950, trước làn sóng đỏ đã tràn đến biên giới Việt-Hoa,cuộc chiến hoàn toàn thay đổi tính chất và Hoa Kỳ san sẻ gánh nặng bằng quân cụ, vũ khí đủ loại và tài chánh cho chính phủ Pháp để tăng cường lực lượng chiến đấu chống cộng sản ở Đông Dương trước một kẻ địch bổng nhiên mạnh hẳn lên do sự hổ trợ không giới hạn của Mao trâch Đông. Trung Cọng trở thành một hậu cứ vĩ đại cho Việt Minh. Chiến tranh du kích đã trở thành thứ yếu. Được huấn luyện, trang bị và tiếp liệu đầy đủ, lực lượng quân sự của Việt Minh đã bước vào giai đoạn trận địa chiến đến cấp trung đoàn,tiến lần đến đại đoàn, sư đoàn. Về phía quốc gia, các lực lượng quân sự cũng được tổ chức qui mô. Quân đội quốc gia Việt Nam được thành lập lanh chóng và chiến đấu bên cạnh quân đội Liên Hiệp Pháp ở nhiều mặt trận, đồng thời đảm nhận phần lớn nhiệm vụ bảo vệ diện địa. Cuộc chiến chấm dứt với hiệp định Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 phân chia tạm thời Việt Nam thành hai miền Bắc Nam như chúng ta đã biết với sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Cộng sản đã chiếm được một nửa đất nước. Dù được tự do lựa chọn, không một thường dân nào ở miền Nam ra miền Bắc trong lúc một triệu đồng bào từ Bắc di cư vào Nam để được sống dưới chế độ tự do, một cuộc di cư lớn lao thực hiện trong vòng mười tháng như chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Bức màn sắt đã hạ xuống trên miền Băc thân yêu của tổ quốc.
Những Bài Học:
Từ
một giai đoạn đầy biến động đưa đến cảnh phân chia đất nước như vừa
trải qua, chúng ta có thể rúr ra nhiều bài học vô cùng quan trọng và hửu
ích, theo thứ tự thời gian của các biến cố.
Vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim(tháng 3-tháng 8,1945):
Làm chính trị,đặc biệt trong cương vị lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo chính
phủ,là phải giữ vững lòng can đảm, không lùi bước trước hiểm nguy,
không để mất tinh thần trước đe dọa. Lãnh đạo là tiên liệu những biến
chuyển có thể xảy ra để ngăn ngừa trước, để chuẩn bị đối phó, làm chủ
động tình thế và nắm lấy thời cơ. Khi có chính quyền trong tay, phải
liên tục hữu hiệu hóa guồng máy Nhà nước cũng như quân lực, không ngừng
cải tiến, không ngừng sửa sai.. Căn bản trí thức là một cái vốn quý
nhưng tư tưởng, kiến thức phải đi đôi với hành động có kế hoạch cụ thể
nếu không thì e sẽ rơi vào tình trạng của những hủ nho của một thời
xưa. Nếu Vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim hành sử như vậy, Việt
Minh không thể dành được chính quyền và lịch sử cận đại đã có thể theo
một chiều hướng khác.
Các Đảng Phái Quốc Gia:
Đã hoạt động từ nhiều năm trước, đáng lẽ các chính đảng quốc gia phải
ra tay hành động, liên kết với chính phủ để giữ vững chính quyền, hướng
dẫn quần chúng đang hăng say độc lập tự do, ủng hộ chính quyền tại vị.
Dù chính phủ có yếu đi nữa – điều khá rõ rệt – các chính đảng phải thúc
đẫy chính phủ, dùng mọi áp lực để trấn tỉnh chính phủ và Nhà Vua và cùng
nhau làm việc. Chúng ta cũng không quên rằng Viêt Nam Quốc Dân Đảng
rất thân gần như đồng chí với Quốc Dân Đảng Trung Hoa đang lãnh đạo và
quân đội Trung Hoa của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đã được Đồng Minh giao
phó trách nhiệm giải giới quân đội Nhật ở Miền Bắc. Một thế lực không
thể lớn hơn lúc bấy giờ cũng như trong suốt thời gian quân đội Trung Hoa
đóng ở ngay thủ đô Hà Nội. Đảng Đại Việt cũng có tổ chức và hoạt động ở
Miền Bắc trong đầu thập niên bốn-mươi. Có lẽ những vấn đề nội bộ của
mổi đảng, hợp tác giữa hai đảng, cộng tác với Vua Bảo Đại và chính phủ
Trần Trọng Kim, không được giải quyết lanh chóng kịp thời chăng trong
lúc tình thế biến chuyển rất lanh như đã trình bày. Một hành dộng đoàn
kết nhất trí giữa những nhà lãnh tụ quốc gia đã không xảy ra trong giờ
phút quyết định của lịch sử khiến cho cộng sản thành công dễ dàng, dễ
dàng quá hơn họ đã dự liệu. Đây là một bài học lớn cho tất cả chúng
ta và đặc biệt cho những người trong chúng ta đang tự gánh giờ đây môt
trách nhiệm trước quốc dân.
Cộng sản Việt Nam:
Thành công tranh đoạt được chính quyền tháng 8 năm 1945, Cộng sản Việt
Nam bắt đầu dẫn dắt dân tộc vào một cuộc phiêu lưu gần mười năm, hy
sinh hàng trăm ngàn sinh linh, tàn phá hơn một nửa đất nước cho đến ngày
xứ sở bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc tháng 7 năm 1954. Sự tôn
thờ mù quáng và áp đặt một chủ nghĩa ngoại lai trên một dân tộc là một
điều cần phải tránh vì trước hết, hành động ngang ngược này loại bỏ
quyền tự do tư duy và lựa chọn của mổi người dân trong nước. Sự áp đặt
chủ nghĩa hay chủ thuyết đã chứng tỏ hậu quả khốc hại của nó với chủ
nghĩa quốc-xã của Hitler và chủ nghĩa cộng sản hay xã hội chủ nghĩa dưới
thời Lénine và Staline rồi đến các lãnh tụ kế tiếp ở điện Cẩm-linh cho
đến khi Gorbatchev lên cầm quyền. Những nước văn minh tiền tiến trong
thế giới không làm như vậy mà chỉ đặt định rõ ràng những mục tiêu không
thay đổi và có lợi cho tất cả mọi người dân trong nước bất luận thuộc
khuynh hướng nào : tự do, dân chủ, công bằng xã hội và phúc lợi của toàn
dân. Dân quyền và nhân quyền được cụ thể hóa trong các mục tiêu này.
Đế quốc Nga Sô, các nước cộng sản ở Đông Âu và Á Phi ngoại trừ Cuba, Bắc
Hàn, Trung Cọng, Việt Nam và Lào đã sụp đổ lanh chóng vì áp dụng một
chủ nghĩa sai lầm không phù hợp với nhân tính và đi ngược lại với sự
tiến hóa tất yếu của nhân loại. Đây là một bài học lớn cho đảng Cộng
sản Việt Nam. Tôi chắc họ đã hiểu nhưng vì quyền lợi riêng tư của những
người lãnh đạo,họ không muốn xét lại toàn bộ chế độ. Sự chần chừ và chậm
trể của họ càng làm cho dân uất hận thêm và nguy hiểm cho chính họ khi
dân chúng nhất tề theo nhau đứng lên thực hiện lấy sự thay đổi chế
độ. Thắng một thời, sai một đời, mang tội muôn đời, những người cầm
đầu Cộng đảng Việt Nam cần suy ngẩm đến diễn tiến này của lịch sử.
B- Giai Đoạn 1954-1975 : Từ Di Cư Đến Di Tản
Những Nét Chính Của Tình Hình :
Trở
về Hà Nội chưa được bao lâu Cộng sản đã chuẩn bị phát động vụ đấu tố
«địa chủ,cường hào, ác bá » trên Miền Bắc vừa tiếp thu. Số nạn nhân
không thể kiểm kê được rõ nhưng phải kể đến cả trăm ngàn người, một tội
ác chống nhân loại đứng hàng đầu. Áp dụng đúng lời dạy của Mao Trạch
Đông, mà cuộc đấu tố trên lục địa đã giết hại hàng chục triệu người.
Dân chúng ở hai tỉnh Hà Tỉnh, Nghệ An, quê quán của ông Hồ Chí Minh, vốn
là lò lửa cách mạng vô sản, đã từng lập sô-viết Nghệ Tỉnh trong các
cuộc nổi dậy từ tháng 5, 1930 đến tháng tư 1931, dân Nghệ Tỉnh ấy nổi
dậy một lần nữa nhưng lần này, để chống đối dữ dội đến độ cả một sư đoàn
quân đội nhân dân phải được phái đến dẹp loạn ! Nhưng rồi đồng bào
Miền Bắc cũng không được ở yên trong cảnh khốn cùng. Cuộc xâm lăng Miền
Nam được khởi sự chuẩn bị. Gọng kềm của chế độ xiết chặc hơn nữa. Đã
không bao giờ được ăn no, dân chúng từ đây còn phải thắt lưng buộc bụng,
Cuộc chiến xâm lăng kéo dài mười lăm năm đã gây nhiều tổn phí không kể
xiết về nhân mạng cũng như đã làm tiêu tan không kể hết được tài sản của
dân và của nước. Hàng triệu người đã nằm xuống vì bom đạn, gươm đao, kẻ
sinh Bắc tử Nam vùi thân trong rừng thẳm, ngưởi hy sinh chiến đấu
chống xâm lăng bảo vệ Miền Nam tự do, dân chủ. Tại Miền Bắc, dân phải
răm rắp tuân lệnh Đảng và nhà Nước, và không có một biến động nào đáng
kể, ngay cả cái chết của ông Hồ chí Minh đầu tháng chín 1969 cũng không
gây nên xáo trộn đáng kể trong hàng ngủ lãnh đạo. Ngược lại, từ khi đất
nước bị phân chia năm 1954, Miền Nam phải trải qua nhiều biến động nội
bộ nghiêm trọng, có lúc gần tan rã, trở thành một con mồi dể dàng cho
cộng sản xâm lược. Hoa Kỳ phải đổ quân vào để cứu vãn tình hình như
chúng ta đã biết. Biến động đáng kể đầu tiên là mưu toan phản loạn của
tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội quốc gia muốn lật
đổ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm , hai tháng sau khi ông Diệm về nước lập
chính phủ do sắc lệnh của Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ông làm Thủ Tướng
với toàn quyền chính trị, hành chính và quân sự. Dân Tây, vợ Đầm, sĩ
quan của quân đội Pháp « biệt phái » qua chỉ huy quân đội quốc gia từ
khi mới thành lập, ông Hinh không chịu khép mình trong kỷ luật quân đội
và kỷ luật quốc gia để phải làm việc dưới quyền của một ông Thủ Tướng
không kiêng nể ông như các Thủ Tướng khác trước đấy, chưa kể ông Diệm
vẫn luôn luôn ra mặt chống Tây thực dân từ khi ông Diệm còn làm Thượng
Thư trong triều đình Huế thời Pháp thuộc. Thất bại, tướng Hinh được Quốc
Trưởng Bảo Đại gọi sang Pháp và ở luôn tại Pháp sau một mưu toan trở về
dấy loạn lần thứ hai nhưng thất bại ngay ở biên giới. Biến cố thứ hai
cũng lại là một mưu toan lật đổ ông Diệm nhưng lần này ông đã là Tổng
Thống nền đệ nhất Cộng Hòa. Cuộc đảo chính hụt này, ngày 11 tháng 11,
1960, lại đưa một số sĩ quan đi tù hay đi ngoại quốc cùng với vài chính
trị gia dính líu đến nội vu. Nhưng tục ngữ Pháp có câu «có hai thì
phải có ba » (jamais deux sans trois) nên lần này, cuộc đảo
chính thành công với sự nhúng tay của chính phủ Mỹ thời Tổng Thống
Kennedy và với sự thực hiện của một số tay sai người Việt. Ngày 2 tháng
11, 1963, Tổng Thống Diệm cùng bào đệ, ông Ngô Đình Nhu, Cố Vấn chính
trị, bị hạ sát. Hai tuần sau, tại thành phố Dallas, Hoa Kỳ,Tổng Thống
Kennedy bị ám sát. Giai đoạn Ngô Đình Diệm chấm dứt. Miền Nam suýt rơi
vào vực thẳm. Việt Cọng nổi lên dánh phá nhiều nơi. Hệ thống ấp chiến
lược bị phá bỏ bởi chính quyền mới của Hội Đồng quân nhân cách
mạng.Nhiều sĩ quan và công chức chống cọng tích cực dưới chính quyền cũ
bị bắt bớ giam cầm. Nhiều cán bộ cộng sản quan trọng đang bị giam giữ
được thả ra vô điều kiện một cách mờ ám. Nhiều vụ tống tiền và chiếm
đoạt tài sản xảy ra ở nhiều nơi mà nạn nhân bị chụp mủ «làm kinh tài cho
gia đình họ Ngô». Trước tình trạng suy đồi lanh chóng của Miền Nam và
một số tin tức về sự móc nối của vài tướng lãnh trong HĐQNCM với một tổ
chức hoạt động cho lá bài trung lập, cũng đại sú Lodge bật đèn xanh cho
một nhóm quân nhân khác làm một cuộc đảo chính lật đổ nhóm quân nhân
«cách mạng 1 tháng 11 » trước. Cuộc đảo chính chớp nhoáng này được thực
hiện trong vòng hai tiếng đồng hồ vào sáng ngày 30 tháng 1, 1964, vỏn
vẹn ba tháng sau vụ binh biến lật đổ nền Đệ nhất Cộng hòa. Ba năm tiếp
theo, Miền Nam sống trong một tình trạng gần như hổn loạn Trong lúc các
chiến sĩ quốc gia đổ máu hy sinh trên các chiến trường lan rộng khắp
nơi thì tại thủ đô Sài gòn, một nhóm tướng tá tranh dành miếng đỉnh
chung, hết đảo chính đến chỉnh lý, biểu dương lực lượng, thanh toán
nhau, bắt bớ nhau, phong chức cho nhau, chia chác quyền lợi và quyền
hành với nhau trên cái thân thể càng ngày càng suy nhược héo mòn của đất
nước đang bốn bề thọ địch. Vì vậy mà Hoa Kỳ phải mang gấp quân sang để
cứu vãn tình thế. Từ khoảng mười ngàn với tư cách cố vấn dưới thời Tổng
Thống Diệm, quân số Mỹ càng ngày càng tăng cho đến hơn nửa triệu quân
vứa tác chiến,vừa cố vấn, vừa tiếp liệu. Số thương vong tổng cọng gần
sáu mươi ngàn người. Chính nghĩa của cuộc chiến đấu của quân dân Miền
Nam càng dễ bị hiểu lầm và xuyên tạc. Phong trào phản chiến càng phát
triển mạnh đặc biệt ở Hoa Kỳ khiến cho chính phủ và quốc hội phải nhượng
bộ trước áp lực của phong trào. Cuối cùng, với chính sách đánh cầm
chừng, tự chế , không đánh cho địch ngã gục mà chỉ để mong địch đến bàn
hội nghị, Hoa Kỳ chỉ còn một mục tiêu chính: rút quân về nước, đem được
hết tù binh về, quân nhân Mỹ mất tích sẽ từ từ tìm kiếm sau. Trong tinh
thần bằng mọi giá phải chấm dứt sự có măt của quân đội mình ở Việt Nam,
Hoa Kỳ xúc tiến Việt nam hoá chiến tranh để Miền Nam tự lo lấy số phận
của mình. Dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, tuy tình hình nội bộ được ổn định
nhưng cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam càng ngày càng khó khăn trước
sự gia tăng không giới hạn của lực lượng địch được cả Khối Cộng sản
quốc tế yểm trợ tối đa và sự suy yếu của lực lượng quốc gia vì Hoa Kỳ
cắt giảm viện trợ quân sự đến mức không đủ nhiên liệu, đạn dược, vũ khí
để thay thế và các quân cụ khác. Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm
1973 được ký kết trong hoàn cảnh này. Chính phủ VNCH buôc phải ký nếu
không thí bị Hoa Kỳ bỏ rơi tức khắc Một hiệp định gián tiếp mở đường cho
cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam vì không buộc CSBV rút về Bắc hơn
một trăm ngàn quân của chúng đã đột nhập vào Nam. Đúng như vậy, sau khi
ký kết, CSBV tấn công khắp nơi xem hiệp định đình chiến Paris như không
có, bao nhiêu quân ở Miền Bắc lục tục kéo vào Nam. Những lời khẩn thiết
của chính phủ VNCH kêu gọi Hoa Kỳ giữ lời hứa của Tổng Thống Nixon can
thiệp nếu CSBV vi phạm hiệp định Paris, đều rơi vào khoảng không. Quốc
hội Hoa Kỳ mà đảng Dân Chủ nắm đa số đã ngăn cấm không cho phép Tổng
Thống can thiệp bằng quân lực ở nước ngoài và tệ hại nếu không phải là
tàn nhẫn hơn nữa, không cho phép tháo khoán số tiền mấy trăm triệu còn
lại trong ngân khoản viện trợ quân sự để cho VNCH mua sắm thêm phương
tiện chiến đấu trong những trận chiến ác liệt đang diễn ra vào những
tháng quyết định đầu năm 1975.
Những Bài Học:
Hai thập niên đầy biến động từ 1954 đến 1975 không thể không để lại nhiều bài học cho chúng ta, cho hậu thế, cho bây giờ đây.
Những Người Quốc Gia:
Bài học đầu tiên của giai đoạn lịch sử này nên được để dành cho những
người Việt quốc gia chúng ta vì trách nhiệm bảo vệ Miền Nam trước đây
trước hết là trách nhiệm của chúng ta, người ít kẻ nhiều với những điều
kiện của mổi người lúc bấy giờ.
-quyền
lợi của đất nước phải được đặt trên quyền lợi riêng của mổi người, mổi
tập thể. Nói thì dễ nhưng nhiều cá nhân, nhiều tập thể không áp dụng bổn
phận căn bản này của người công dân. Chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu
chúng ta có trước đây những vị lãnh đạo đặt quyền lợi của quốc gia trên
tất cả thì Miền Nam chúng ta cũng không thiếu những người có chức quyền
xem thường quyền lợi của quốc gia mà chỉ biết đến quyền lợi của cá nhân
mình.
-
dân chúng phải chọn những người lãnh đạo và những người đại diện cho
mình không những có khả năng mà còn phải có đạo đúc, tư cách ; phải nhìn
vào quá khứ để tìm hiểu chứ đừng nghe lời đường mật hứa hẹn hão huyền.
Một sự lựa chọn sai lầm sẽ rất tai hại lâu dài cho cộng đồng, cho quốc
gia.
-
chúng ta phải tự trang bị tinh thần tự lập, tự cường, phải rửa sạch
tinh thần vọng ngọai và ỷ lại. Có một nước bạn giúp đở chúng ta là một
điều tốt, nhiều lúc còn cần thiết nữa nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ
rằng không ai thương chúng ta, lo cho chúng ta bằng chính chúng ta. Nước
nào cũng có quyền lợi riêng của nước ấy. Nếu quyền lợi của nước bạn một
lúc nào đấy không phù hợp hay ngược lại với quyền lợi của đất nước
chúng ta thì chúng ta phải trả giá đắt sự ỷ lại thiếu sáng suốt của
chúng ta.
-
trong thời đại bây giờ, trừ vài nước Phi châu còn lạc hậu, không một ai
quan niệm được rằng nền dân chủ của một quốc gia có thể bị hủy hoại vì
một biến động quân sự của một nhóm quân nhân. Nguyên tắc cơ bản của tất
cả các nước văn minh từ hơn cả thế kỷ hay vài thế kỷ nay là sự phụ thuộc
của thẩm quyền quân sự vào chính quyền dân sự (principe de subordination de l’autorité militaire au pouvoir civil) vì chính quyền dân sự đại diện cho toàn dân, thể hiện chủ quyền của toàn dân (souveraineté du peuple).
Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ và đặc biệt đảng Dân Chủ cần phải hiểu và chúng ta phải kiên
nhẫn làm cho họ hiểu rằng khả năng vô địch của họ về quân sự, khoa học,
kỹ thuật, tiềm lực kinh tế dồi dào của họ, tất cả không miễn trừ cho họ
những nỗ lực học hỏi cần thiết để thấu hiểu những giá trị, những khát
vọng, những nhu cầu, những điều kiện đặc thù của mổi dân tộc trong mổi
giai đoạn của lịch sử của dân tộc ấy, biến chuyển không ngừng theo sự
chuyển biến của thế giới. Trong sự thi hành sứ mạng mà Hoa Kỳ tự nhận
hổ trợ cho các dân tộc tranh đấu cho tự do, dân chủ của họ qua lời tuyên
bố công khai và long trọng trước thế giới gần đây của Tổng Thống
Georges W. Bush, siêu cường này không thể phạm phải những sai lầm về
nhận định, về thiết kế chính sách đối ngoại, về sự phân biệt giữa những
đối tượng, thù hay bạn của tự do, dân chủ, của nhân quyền, của sự tiến
bộ của nhân loại. Hoa Kỳ không thể hành sử như một quốc gia tầm thường
chỉ tính toán cho những quyền lợi trước mắt và ngắn hạn nhiều lúc chưa
chắc đã có thực để quên đi sứ mạng cao cả của mình với nhân loại. Những
sai lầm của Hoa Kỳ trong những quyết định của họ trong nửa thế kỷ nay,
đặc biệt ở Trung Hoa năm 1949 và ở Việt Nam năm 1963 và 1975 đã làm cho
bàn cờ thế giới thay đổi một cách tai hại và dài hạn, đặt gần một tỷ
rưởi người trong cảnh nghèo khổ và mất tự do dưới sự thống trị của một
thiểu số « tư bản đỏ » dẫm lên trên nhân quyền và nhân vị của con
người., và đặt các nước trong vùng Á Châu Thái Bình Dương trong tình
trạng lo ngại và cảnh giác thường xuyên trước chế độ cộng sản ở Trung
Hoa lục địa, hung hản, bá quyền, đe dọa nền an ninh và kinh tế của toàn
vùng. Tuy vậy, nhiều chánh khách, nhiều lý thuyết gia, kinh tế gia,
nhà nghiên cứu chính trị chiến lược, đủ cỡ đồng thanh tranh nhau ca ngợi
hai chế độ cộng sản môn đệ của bạo chúa Staline nói trên bằng cách
tuyên dương những thành quả của hai chế dộ này, so với…tình trạng của
hai quốc gia này trong thời gian đen tối nhát mà hai chế độ đã tạo nên
cách đây ba bốn-mươi năm hơn, khi nhân dân hai nước gần chết khổ tất cả
vì bị đem ra làm con vật thí nghiệm cho các chánh sách xã hội chủ nghĩa
thuần túy nhất.. Nghĩa là so sánh cái tệ hại nhất của các chế độ này gây
nên với cái ít tệ hại hơn bây giờ, thay vì so sánh với các «con rồng
vàng» kế cận đã vươn lên như những con rồng trong thần thoại từ hơn
hai mươi năm nay! Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu cũng đừng quên rằng 90
phần trăm dân ở Trung Hoa lục địa và ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa giờ đây
đang sống xa hẳn dưới mức nghèo khổ nghĩa là không đến một đô la một
ngày vì lợi nhuận trung bình từ 400 đến gần 700 đã bị thiểu số 10 phần
trăm có lợi nhuận cao chia lấy phần lớn. Quảng đại quần chúng này phải
có quyền sống đủ no, đủ ấm, đủ tự do, nhân phẩm được tôn trọng như tất
cả mọi người khác trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay. Thế giới
Tây phương nói chung, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu nói riêng cần nhìn
xuyên qua cái hình thức phô diễn bề ngoài mỏng manh và phải lắng nghe
tiếng kêu gọi xuất phát từ bên trong sâu thẳm của hơn cả tỷ người cần
được giải thoát và được hoàn trả lại các dân quyền và nhân quyền của họ
mà không một đảng nào, một nhà Nước nào có quyền tước đoạt mãi mãi.
Thêm Một Bài Học Cho Những Người Cộng Sản Việt Nam:
Sau khi bá chủ được tất cả Miền Bắc năm 1954, lẽ đáng công sản phải
ngưng nghỉ cho dân hưởng thái bình, xây dựng lại những đổ vỡ của chiến
tranh,phát triển kinh tế, nâng cao mức sống, chờ đợi môt ngày thuận tiện
hai Miền Nam Bắc nói chuyện với nhau tiến tới việc thống nhất đất nước
trong hoà bình, tự do. Không làm như vậy, cộng sản Bắc Việt đã phát động
cuộc chiến thứ hai, quyết xâm lăng Miền Nam, khống chế cà Đông Dương
như chúng ta đã biết. Thêm hai-mươi năm nội chiến để làm gì ? Để thống
nhất đất nước ? Một ngụy biện không chấp nhận được vì, cần phải nhấn
mạnh cho những người còn tin ở ngụy biện này, thống nhất chỉ là và phải
là kết quả của một tiến trình thương thảo giữa hai Miền Nam Bắc, một
công cuộc chính trị, một sự đồng thuận giữa hai bên trong những điều
kiện không thiệt hại cho một bên nào để từ đấy thực hiện một công thức
quản trị duy nhất cho quốc gia, một chính quyền chung cho cả nước. Không
làm như vậy mà dùng vũ lực, gây nên cả một cuộc chiến tranh thì hoàn
toàn không phải là một sự thống nhất trong ý nghĩa đúng đắn của sự kiện
lịch sử này mà chỉ là một cuộc xâm lăng trắng trợn. Đảng cộng sản
Việt Nam đang mang trên mình bản án nặng nề nhất của lịch sử. Họ phải
rút ra từ tội lỗi lớn lao của họ một bài học cho chính họ để tạ tội với
quốc dân thay vì tiếp tục chính sách dối trá lường gạt đồng bào trong và
ngoài nước. Từ bài học quá đắt giá này, tôi mong người cộng sản Việt
Nam sẽ biết phục thiện để đi vào con đường chung của dân tộc. Họ cần
hiểu rằng quyền hành họ đang nắm giữ chỉ là một quả bóng bay mà một cơn
gió thoảng mùa hè có thể tách rời khỏi tay họ.
C- Từ Đổi Đời Đến Đổi Mới : 1975 – 1986 Và Tiếp Theo
Từ Đổi Đời Đến Đổi Mới.
Trưa
ba mươi tháng tư 1975, đoàn chiến xa của Hồng quân Nga Sô viện trợ cho
cộng sản Bắc Việt tiến vào thủ đô Sài Gòn và chạy thẳng tới dinh Độc Lập
tức phủ Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hoà. Thủ đô Miền Nam đã bỏ ngõ từ
chiều hôm trước. Cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ vừa chấm dứt. Hoà bình
trở lại trên một đất nước đuợc sự thương cảm của thế giới bởi những hy
sinh không kể xiết của một dân tộc vừa thoát khỏi một cuộc chiến tranh
dài nhất thế kỷ : ba- mươi năm. Nhưng thế giới đã không nhìn xa hơn. Ít
ai nhận thấy tai ương sắp xảy ra cho dân tộc Việt Nam bất hạnh này. Hầu
hết đều muốn ra đi vì họ biết một cuộc đổi đời sắp xảy ra. Đúng vậy,
bắt bớ, giam cầm, tù đày, cải tạo, cướp nhà, cướp của đồng loạt và liên
tục xảy ra khắp nơi. Miền Nam đã vậy trong lúc dân chúng Miền Bắc thất
vọng, bao nhiêu mong ước Miền Nam ra giải thoát cho họ bỗng chốc bốc
thành mây khói ! Chỉ trong vòng vài tháng, nửa triệu người bị lùa vào
các trại cải tạo, hơn một trăm ngàn người vào các nhà tù, hơn một triệu
người « đi » kinh tế mới, bỏ lại cho Đảng cho Nhà Nước nhà cửa, tài sản
của mình. Chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa tập trung các phương
tiện sản xuất trong tay Nhà Nước, quốc hửu hóa tất cả các xí nghiệp tư
doanh trước đây, triệt hạ thành phần « tư sản mại bản »… đã lanh chóng
tê liệt hóa nền kinh tế vốn tương đối thịnh vượng của Miền Nam, đến mức
mọi người phải ăn đói, bửa có bửa không ! Rõ ràng là một cuộc đổi đời
đang được thực hiện. Thế giới bên ngoài đã bắt đầu theo dõi tình hình
bi thảm đang diễn ra tại Miền Nam Việt Nam cùng lúc với những vụ vượt
biên, vượt bể, vượt cả đại dương của hàng trăm ngàn người mà một số lớn
đã tử nạn dọc đường hay bị cướp biển hảm hại. Lương tâm nhân loại bắt
đầu xúc động. Một số nhân vật Tây phương đã hết lời ca ngợi cuộc giải
phóng Miền Nam, thống nhất nước Việt Nam, đã tỉnh ngộ, bắt đầu hối hận
về sự lầm lạc của mình như nhà triết học Jean Paul Sartre. Cuộc trắc
nghiệm các chính sách mới của chế độ mới từ 1975 đã hoàn toàn thất bại.
Từ Mạc tư Khoa, Gorbatchek đã cho Hà Nội biết Nga Sô không thể tiếp tục
viện trợ cho Việt Nam nữa. Tập đoàn lãnh đạo cộng sản hiểu rằng đã đến
lúc phải đoạn tuyệt với chủ nghĩa, giáo điều, tất cả, để thoát ra khỏi
cái mồ chôn mà họ đã tự đào lên để tự chôn mình và chôn luôn cả dân
tộc. Đã đổi đời, bây giờ phải đổi mới! Đại Hội Cộng đảng thứ sáu họp
tháng 12,1986 quyết định từ bỏ kinh tế xã hội chủ nghĩa, áp dụng kinh tế
thị trường, được ráp thêm cái đuôi « theo định hướng xã hội chủ nghĩa »
để níu kéo lại một số đặc quyền của Nhà Nước, duy trì nhiều xí nghiệp
quốc doanh và cũng để vớt vát thể diện bị tiêu hao nặng nề bởi sự trở cờ
180 độ. Chính sách đổi mới kéo theo những thay đổi trong các chánh sách
áp dụng lân nay trong nông nghiệp, kỹ nghệ, thương mãi, hủy bỏ nhiều sự
kiểm soát trong sự lưu thông, phân phối hàng hóa sản xuất, cho phép
hưởng lợi cá nhân, phát triển các dịch vụ. Những luật lệ đầu tiên về
đầu tư dành cho người ngoại quốc được ban hành lôi cuốn nhiều doanh nhân
các nước ngoài đổ tới nghiên cứu thị trường, khởi sự hoạt động. Việt
kiều ở hải ngoại bắt đầu về thăm quê hương, và càng ngày càng đông, đem
về nhiều ngoại tệ. Nhưng « đổi mới » chỉ giới hạn trong lãnh vực
thuần túy kinh tế. Chính trị vẫn như trước nghĩa là vẫn độc đảng, độc
trị. Và «đổi mớỉ» tạo nên những vấn đề mới trên phương diện xã hội. Mọi
người chen chúc nhau, xô đẩy nhau để làm tiền, để kiếm sống, để làm
giàu, bằng mọi cách, không còn phân biệt điều tốt, điều xấu. Một xã hội
thả lỏng, các giá trị tinh thần, đạo lý, đạo đức không còn được ai nhắc
nhở đến nữa. Từ trên xuống dưới, từ cấp lãnh đạo cao nhất cho đến cán
bộ thấp nhất, mọi người thi nhau làm tiền một cách trắng trợn. Tệ nạn
tham nhủng được hệ thống hóa, lan tràn khắp nơi, từ trung ưong đến địa
phưong, trong chính quyền, trong quân đội, trong các công ty quốc doanh,
ở bất cứ nơi nào có thể kiếm ra tiền. Trong lúc nhờ tham nhủng, một
giai cấp mới, tư bản đỏ và tư sản đỏ, được thành hình và phát triển lanh
chóng thì đại đa số dân chúng ở ngoài vòng ảnh hưởng trực tiếp của «
đổi mớỉ » hoặc ở nông thôn xa xôi không tiếp cận với các đô thị, các
thành phố, tiếp tục nghèo khổ, một số ít được khá hơn phần nào nhưng số
đông không có gì thay đổi, chưa kể nhiều gia đình khốn đốn hơn phải bán
con, phải để mẹ hay vợ ra đi lao động ở nước ngoài để chồng con ở lại
quê nhà. Tỷ lệ trẻ con suy dinh dưỡng đạt mức báo động, số trẻ em bỏ
học đạt mức đáng lo ngại. Chưa bao giờ có trong lịch sử một cảnh tương
phản xã hội khiêu khích như vậy giữa những nhà giàu hàng chục, hàng trăm
triệu Mỹ kim xây dựng tài sản một cách bất chính và những gia đình
không kiếm được cái ăn hằng ngày vì không kiếm được việc làm, không được
ai giúp đở kể cả Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa.
Những Bài Học Cho Ai ?
Từ
đổi đời đến đổi mới, giai đoạn cuối cùng của lịch sử cận đại, chúng ta
có thể rút ra vài bài học cụ thể tiếp giáp ngay với hiện tại trước mắt.
Những người cộng sản trong nước:
họ đã tạo nên một cuộc đổi đời, tưởng thực hiện được giấc mơ xã hội chủ
nghĩa : một thiên đường ở trần gian. Mười năm sau, họ đã vở mộng. Lãnh
đạo một nước không phải là lãnh đạo một cuộc chiến tranh. Xây dựng và
kiến tạo không cùng một lãnh vực với xử dụng vũ lực. Một chủ thuyết kinh
tế dựa trên sự phủ nhận và bãi bỏ động lực thu lợi cá nhân không thể
nào ứng dụng thành công được vì trái với tâm lý tự nhiên của con người
luôn luôn muốn làm ra tiền để cải tiến đời sống của mình., một nhu cầu
thường xuyên của bất cứ ai. Từ chủ thuyết trên, cộng sản chủ trương làm
chung, ăn chung, nghĩa là tập trung các phương tiện sản xuất trong tay
tập thể, trong tay Nhà Nước, khiến cho không ai chịu trách nhiệm rõ rệt
về thành quả của hoạt động mà ngược lại, ai cũng muốn dành một phần lớn
cho mình. Mặt khác, mất quyền sở hửu phương tiện sản xuất của mình, làm
việc mà không hưởng được kết quả trọn vẹn của công sức mình, chắc chắn
không ai làm việc hết mình. Năng xuất thấp, hiệu quả kém là chuyện không
tránh được. Số phận của các xí nghiệp Nhà Nước vì vậy đã được an bài .
Với kinh nghiệm đắt giá của nền kinh tế xã hội mác-xít, cộng sản đã ôm
chầm lấy kinh tế thị trường nhưng, như đã kể, còn ráp thêm cái đuôi tai
hại « theo định hướng xã hội chủ nghĩa », làm hỏng phần lớn hiệu quả của
chính sách cứu rỗi này. Tóm lại, cần phải cắt gấp cái đuôi tai hại ấy
để loại bỏ những ảnh hưởng xấu của nó. Ngoài ra, phải đổi mới chính trị
nghĩa là phải thực hiện tiến trình dân chủ hóa , trả lại cho dân các
dân quyền và nhân quyền mà không một quyền lực nào có thể tước đọat mãi
mãi đươc. Phải thành hình một Nhà Nước pháp trị, thượng tôn luật pháp,
một hệ thống luật pháp đúng với những tiêu chuẩn của luật pháp văn minh
hiện hành trong thế giới chứ không phải một mớ luật lệ, nghị quyết, pháp
lệnh phản dân chủ, phản nhân quyền, thủ tiêu các quyền tự do căn bản.
Đây là bài học tối quan trọng mà các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải
rút tỉa từ kinh nghiệm hai-mươi năm qua để áp dụng bây giờ vì lợi ích
của quốc gia. dân tộc.
Đồng Bào Trong Nước:
Nạn nhân của cuộc đổi đời, đồng bào trong nước đã thoát chết đói nhờ
những người bạn củ trở lại kịp thời. Chính sách kinh tế thị trường đã mở
đường cho những nhà kinh doanh Âu Á Mỹ Úc lần lần trở lại làm ăn và dọn
đường cho đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương đất nước. Thoát chết
đói nhưng chưa phải là sống đủ no, đủ ấm, đủ tự do cho tất cả mọi người
từ thôn quê đến thành thị. Dân tộc Việt Nam phải được quyền sống xứng
đáng như các dân tộc khác trên thế giới văn minh tiến bộ ngày này.Sự
chịu đựng nhẫn nhục chỉ có tác dụng khuyến khích lòng tham quyền cố vị
và kéo dài vô hạn định chế độ độc tài đảng trị. Đồng bào phải đứng lên
đòi hỏi đảng cộng sản trả lại các quyền tự do, dân chủ cho đồng bào.
Dân tộc ta luôn luôn tôn trọng các tín ngưỡng, tôn thờ Thượng Đế, cầu
Trời như đấng chí linh, khấn Phật như đấng siêu phàm, tôn kính tổ tiên,
ông bà, tạo nên những truyền thống tốt đẹp mà chúng ta có bổn phận gìn
giữ và bảo vệ bằng mọi giá. Luật pháp của chế độ cộng sản vô thần duy
vật và con đẻ cuối cùng của nền luật pháp rừng rú ấy, Pháp lệnh về tôn
giáo, phải được hủy bỏ. Nơi cửa Phật, nơi Thánh đường, nơi Thánh thất,
không ai có quyền xâm phạm, kiểm soát, rình mò, phong tỏa. Việc truyền
đạo và hành đạo là một hành động tự do của mọi người, nhà tu hành, giáo
sĩ các tôn giáo, người thường dân, bất cứ ai, có thể thực hiện bất cứ
nơi nào bởi không có một lý do nào để hạn chế. Tài sản của các giáo hội
đã có từ xưa phải được hoàn trả lại vô điều kiện,các sự thất thoát hư
hỏng phải được đền bù vì một Nhà Nước, một chính quyền bình thường không
thể cướp đoạt tài sản của dân, của một tập thể, nhất lại là một tập thể
tôn giáo mà đặc tính tuyệt đối là vô vụ lợi và có lợi ích công cọng
như cả thế giới đã công nhận từ nhiều thế kỷ. Đồng bào phải muôn người
như một đòi hỏi, nếu cần thì mạnh dạn tranh đấu, cho tự do tín ngưỡng,
tôn giáo hoàn toàn như vừa trình bày. Và cũng như đã trình bày, đây là
cả một vấn đề bao trùm những truyền thống quý báu và tốt đẹp nhất của
dân tộc Việt Nam chúng ta, không phân biệt lương giáo, không phân biệt
tín ngưỡng. Mùa Xuân 2005 này, cuộc tranh đấu bất bạo động thứ ba trong
Cộng đồng các quốc gia độc lập do Nga chủ trì cũng đã thắng lợi nhanh
chóng và quá dễ dàng. Dân chúng Kyrgzystan không đến vài ngàn người do
đảng đối lập tổ chức để phản đối cuộc bầu cử gian lận đã kéo thêm được
người hùa theo ủng hộ la lối,cảnh sát ngăn chận không cho họ kéo đến trụ
sở quốc hội nhưng họ vẫn tiến tới. Không thể đẩy lui đoàn người biểu
tình và không muốn xử dụng vũ khí, lực lượng cảnh sát đành để cho dân
chúng chiếm quốc hội và cứ thế, đoàn người hồ hởi này kéo đến phủ Thủ
Tướng, dinh Tổng Thống. Không có một sự kháng cự nào cả của cảnh sát và
quân đội, Tổng Thống đã lanh chân qua nước ban trốn luôn. Hai vụ tranh
đấu trước của dân Ukraine và Georgia, gọi là cách mạng da cam và cách
mạng hoa hồng cũng diễn ra gần giống vậy, người dự biểu tình đông hơn
và thời gian tranh đấu dài hơn nhưng trong cả ba vụ vừa kể, không có đổ
máu, kết quả tốt đẹp. Tại sao ở Việt Nam lại không thể xảy ra như vậy ?
Sự sợ hãi không còn lý do tồn tại nữa vì, rất giản dị, không anh cảnh
sát nào, không anh lính nào dại dột xả súng bắn vào dân để, hoặc bị dân
nổi giận tràn đến trả thù ngay toi mạng, hoặc mang tội giết người nếu
cuộc nổi dậy thành công. Thế giới ngày nay không như thế giới mấy chục
năm trước. Không sợ hãi, nhất định thành công.
Đồng Bào Hải Ngoại:
Để tránh một cuộc đổi đời, chúng ta đã phải rời quê hương đi tìm một
chân trời tự do. Do cuộc đổi mới, thế cùng lực kiệt, cộng sản Việt Nam
đã tự động thay đổi qui chế của chúng ta, từ thù địch bỏ nước ra đi
thành khúc ruột ngàn dặm Nghị quyết số 36 của cộng sản hàm chứa một sự
biến chuyển tư tưởng tương tự, không hơn, không kém, một sự dối trá
tuyệt đối khỏi cần bỏ công phân tách mổ xẻ. Về thăm quê hương, thăm
cha mẹ già đang mỏi mắt chờ con, không phải là những chuyện đáng trách
nhưng nhất định đừng để cho cộng sản xử dụng như những con tin. Ngược
lại, một người về thăm quê phải mang theo một thông điệp đầy đủ ý nghĩa
của thế giới bên ngoài và của chính cộng đồng người Việt ở hải ngoại.
Thông điệp ấy là đã đến lúc đồng bào chuẩn bị đứng lên đòi hỏi dân chủ,
tự do, no ấm. Đồng bào ở bốn phương trời, thế giới khắp nơi sẽ tiếp tay
ủng hộ cuộc tranh đấu của đồng bào quốc nội. Ngọn sóng thần dân chủ,
tự do đang lần lượt lôi cuốn những bức màn sắt rét rỉ còn sót lại.
II- NHỮNG TRIỂN VỌNG CỦA TƯƠNG LAI
A- Việt Nam Trong Chính Sách Đối Ngoại Của Hoa Kỳ
Nhiều
đồng bào chúng ta ở trong nước cũng như ơ hải ngoại, ngay tại Hoa Kỳ,
suy đoán tương lai của quê hương qua nhận thức của mình về thái độ của
Hoa Kỳ đối với Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phương pháp suy đoán này không
hẳn là không đúng vì một cách tổng quát, ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với
những chuyển biến lớn trên thế giới khá rõ rệt. Nhưng không phải là Hoa
Kỳ muốn gì cũng được. Và truớc hết cần phải tìm hiểu thực sự Hoa Kỳ muốn
gì ở Việt Nam trong nhiệm kỳ hai của Tổng Thống Georges W. Bush. Như
chúng ta đã biết, nhà lãnh đạo Hoa Kỳ có tuyên bố ít lâu sau khi được
tái cử là ông sẽ hổ trợ cho các dân tộc đứng lên tranh đấu cho tự do dân
chủ của nước họ. Một lời tuyên bố có tính cách chung, không ám chỉ một
nước nào nhưng chắc chắn đã làm cho nhiều nước e ngại dù chưa đến nổi lo
ngại. Về vấn đề Việt Nam, ngày 21 tháng 3 vừa qua, Đại sứ Mỹ ở Hà Nội,
Michael W. Marine, tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại San
Francisco,. Mục đích, theo tôi nghĩ, vưà là để chuẩn bị cho cuộc viếng
thăm trong vài tháng tới của Phan văn Khải, Thủ Tướng của cộng sản Bắc
Việt nhưng quan trọng hơn, vừa gián tiếp cho chúng ta biết những nét
chính của chính sách của chính phủ Bush hiện thời.Một sự chuẩn bị như
vậy, nói chung, trong cách thức làm việc của bộ ngoại giao các nước
không có gì lấy làm lạ. Đối với nội vụ ở San Francisco, bộ Ngoai Giao
Hoa Kỳ phải lo hơn nữa vì Khải muốn đến thăm toà Tổng lãnh sự của chế độ
Hà Nội tại đây. Và ai cũng biết tại đây cũng như ở Vùng Vịnh (Bay area)
bao quanh, cũng như ở quận Cam (Orange county) ở Nam California, nơi có
người Việt đông nhất ở hải ngoại, nhiều thành phố không tiếp các « nhân
vật » của cộng sản Việt Nam và cờ vàng ba sọc đỏ của quốc gia Việt Nam
vẫn phất phới bay. Bộ Ngoại Giao dưới thời Colin Powell đã bực mình về
chuyện này nhưng không làm gì được bởi tính cách tự trị nội bộ của các
thành phố dựa trên nguyên tắc phân quyền rộng rãi của Liên bang Hoa Kỳ.
Những rục rịch chuẩn bị của đại sứ Mỹ làm cho nhiều đồng bào ta nghĩ
rằng ông Bush đã thiên về phía cộng sản Hà Nội. Sự lo ngại này có phần
đúng trong lúc này, không phải vì ông Bush thiên về bên nào nhưng vì ông
và chính phủ của ông làm việc theo một chương trình hành động trong đó,
bên cạnh những vấn đề ưu tiên của Hoa Kỳ (bình định và tái thiết Irak,
chống khủng bố trên nội địa Hoa Kỳ và trên toàn cầu, thực hiện lộ trình
hoà bình ỏ Trung Cận Đông, ngăn chận chương trình chế tạo vũ khí nguyên
tử của Iran, của Bắc Hàn, đẩy mạnh công cuộc củng cố chính quyền dân cử
Afganistan và tái thiết nước này, vụ rút quân của Syrie khỏi Liban v.v.)
còn có những vấn đề chiến lược từng vùng (Thái bình Dương, Âu Châu,
Trung Cận Đông) hoặc toàn cầu, và cố nhiên trên tất cả, là các vấn đề
thiết yếu nội bộ của siêu cường này như năng lượng, an sinh xã hội, thâm
thủng ngân sách, thiếu thăng bằng gia tăng của cán cân ngoại thương, tỉ
lệ khiếm dụng,nạn chuyển dịch xí nghiệp ra ngoại quốc, tỉ lệ tăng
trưởng, tỉ lệ gia tăng vật giá v.v. Trong những vấn đề chiến lược từng
vùng của thế giới, nổi bật đặc biệt trong những ngày gần đây là vấn đề
Trung quốc, một vấn đề đã được đặt ra từ hơn nửa thế kỷ nay như đã ghi
trên chứ không phải mới mẻ gì nhưng thái độ hung hăng của Bắc Kinh đối
với Đài Loan vừa rồi tiếp theo những vụ dành đất, tranh dành các đảo ở
biển Nam hải,dành hải phận ở Vịnh Bắc Việt, bắn chết ngư phủ Việt Nam
làm cho tình hình trong vùng căng thẳng phần nào và đòi hỏi Hoa Kỳ biểu
lộ thái độ một cách rõ rệt hơn. Hà Nội chỉ mong có vậy cũng như nhièu
quốc gia ở Đông Á , nơi mà an ninh và hoà bình khó bảo đảm được nếu Hoa
Kỳ đứng ngoài cuộc trong lúc hai chế độ cộng sãn Trung Hoa và Bắc Hàn
đang còn ngự trị trên hai quốc gia này. Từ 1950, một số đầu óc ở Mỹ đã
nghĩ đến việc biến ông Hồ Chí Minh thành một Tito ở Á Châu nhưng mọi
người đã biết, ông Hồ không bao giờ là Tito mà ngược lại đã nhuộm đỏ cả
Đông Dương, thi hành đúng chủ trương bành trướng của quan thầy Staline..
Giờ đây, Hoa Kỳ lại muốn dùng cộng sản Bắc Việt đóng vai trò của Tito
một lần nữa, có lẽ vì không có ai khác để làm cái đê ở biên giới phiá
Nam của Trung Hoa. Chúng ta phải công nhận và cầu mong Hoa Kỳ thực
hiện được và tốt chiến lược bao vây (stratégie d’endiguement)
đắp đê phòng lũ lụt này vì quyền lợi tối thượng của nước ta, một quyền
lợi vượt lên trên tất cả những quyền lợi khác chừng nào nước láng giềng
vĩ đại của chúng ta chưa được quản trị bởi một chế độ dân chủ, sống hoà
điệu với cộng đồng thế giới. Vấn đề thực sự đặt ra cho chúng ta là làm
sao chứng tỏ cho Hoa Kỳ hiểu rằng những người Việt không cộng sản, những
người Việt yêu chuộng tự do, dân chủ, hiện ở trong nước hay ở ngoài
nước, có đầy đủ khả năng, có đầy đủ quyết tâm , có đầy đủ lương tâm và
đạo đức, có nhiều hơn tầng lớp lãnh đạo cộng sản hiện thời, tất cả những
điều kiện cần thiết để xây dựng một vận hội mới dân chủ, tự do, hoà
bình, tiến bộ cho nước Việt Nam và từ đấy, góp phần tích cực và hửu hiệu
vào công cuộc bảo vệ an ninh và hoà bình cho Đông Nam Á Châu và Thái
Bình Dương. Chúng ta phải cùng nhau cố gắng tạo nên một hính ảnh tốt
đẹp của cộng đồng người Việt Nam để xóa bỏ một số định kiến không được
tốt đẹp mà một phần dư luận ngoại quốc đang còn lưu giử từ trong dĩ vãng
của chúng ta. Chúng ta phải tranh thủ không ngùng thiện cảm và lòng tin
cậy của thế giới, điều kiện tiên quyết của sự hổ trợ dành cho cuộc
tranh đấu cho dân chủ, tự do, cho dân quyền và nhân quyền của dân tộc
Việt Nam.
B- Những Triển Vọng
Trước
hết chúng ta, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cần phải ý thức một
cách sâu sắc và rõ rệt rằng số phận của chúng ta, tương lai của đất nước
chúng ta, của quê hương chúng ta, do chính chúng ta định đoạt. Sự hổ
trợ của bạn bè năm châu bốn bể luôn luôn đến sau, để giúp đở và tiếp tay
cho chúng ta chứ hoàn toàn không phải để thay thế chúng ta. Một thái
độ ỷ lại vào người ngoài, vào nước ngoài chỉ mang lại sự khinh rẻ và từ
chối của chính những người mà chúng ta chờ đợi họ giúp đỡ. Chúng ta
cần mọi sự hổ trợ từ bên ngoài và chúng ta phải tỏ rõ xứng đáng với
những sự hổ trợ ấy. Triển vọng xấu – Có nghĩa là tình trạng mà chúng ta
đang chứng kiến ở quê nhà và tóm lược ở trên sẽ không thuyên giảm và
còn có thể tệ hại hơn nữa. Về chính trị, vẫn độc đảng, độc tài, độc trị.
Dân quyền và nhân quyền tiếp tục bị tước đoạt. Nạn tham nhũng càng ngày
càng tồi tệ hơn. Bất công xã hội, cách biệt giàu nghèo, sẽ không giảm
bớt mà còn gia tăng. Việt Nam vẫn ngồi lì ở vị trí áp chót nghèo nhất
thế giới. Bức tranh đen tối này sẽ còn mãi nếu không xảy ra một sự thay
đổi toàn diện, thể chế chính trị, cơ cấu công quyền, nhân sự lãnh đạo.
Chờ đợi sự thức tỉnh của những người lãnh đạo hiện thời để thực hiện
một cuộc cải cách sâu rộng sẽ là một mơ ước hão huyền. Đất nước sẽ tuột
dần xuống vực thẳm. Nếu đồng bào không đứng lên đòi hỏi dân chủ hóa
chế độ, trả lại quyền dân cho dân.
Triển
Vọng Khá Mơ Hồ: một số người trông đợi ở thời gian. Lớp lãnh đạo lớn
tuổi hiện thời sẽ qui tiên. Lớp trẻ hay trung niên có tư tưởng rộng rải
hơn và có nhiều cơ hội tiếp xúc với thế giới văn minh , có trình độ học
vấn cao hơn, sẽ thay thế lớp lãnh đạo cũ và chế độ tự nó sẽ biến đổi.
Lý luận này không phải là huyền ảo nhưng gần ba mươi năm nay, rồi hai
mươi năm nay, rồi mười năm nay, lãnh đạo qui tiên thì có nhưng chế độ xã
hội chủ nghĩa vẫn ỳ ra đấy, tham nhũng, thối nát càng tiến mạnh, tiến
nhanh! Triển Vọng Sáng Sủa: Chúng ta đang có một triển vọng sáng sủa
hơn bao giờ cả vì tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới đều
thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Trong nước, thuận lợi
vì trước hết, lòng dân đã chán nản ngoai trừ một thiểu số được hưởng đặc
quyền, đặc lợi như đã trình bày. Những nhà trí thức, những cựu đảng
viên cao cấp, những cựu tướng tá, nhiều nhà văn, nhà báo đến cả nông dân
nhiều nơi, thị dân ở ngay Sài Gòn cũ cũng chỉ trích, đẳ kích Đảng, Nhà
Nước không tiếc lời, thậm chí tấn công cảnh sát, công an, không còn sợ
hải như trước nữa. Vụ cuối cùng,trong tuần vứa qua ngay tại đại lộ Trần
Hưng Đạo, giữa Sài Gòn-Chợ Lớn, bốn trăm người qua đường đã tụ họp nhau
đánh cảnh sát, đốt xe chỉ vì một vụ bắt phạt lưu thông không đáng kể,
chẳng qua chỉ vì sự dồn nén uất hận lâu ngày. Cảnh sát phải rút lui.
Tại tỉnh Thái Bình, nông dân cũng nổi lên đánh lại lực lượng công an
trong một vụ phản kháng vì bị cướp đoạt đất đai. Vài vụ vừa kể chỉ để
nói lên sự thay đổi từ tâm lý sợ hải phục tòng đến tâm lý đề kháng nhiều
lúc dến bạo động. Và một khi dân chúng đã phẩn nộ tập họp thành đám
đông và nhân viên công lực không giải tán được nữa thì lúc ấy chế độ
không còn ai bảo vệ nữa. Các vụ giải thể các chế độ cộng sản từ Nga Sô
đến các nước chư hầu ở Đông Âu, các vụ gọi là cách mạng hoa hồng, da cam
, hoa tulipe mới đây tại các Cộng Hoà sô viết của Nga Sô cũ đều đã diễn
tiến như vậy. Trước khi sụp đổ, Nga Sô, thành trì và mẫu quốc của Khối
Cộng Sản quốc tế, hùng mạnh về quân sự tương đương với Hoa Kỳ, dày dặc
một mạng lưới mật vụ, công an, cảnh sát bao trùm cả nước, đã tồn tại
bảy-mươi-bốn năm và sản xuất ba thế hệ thanh niên quàng khăn đỏ, Nga Sô
kiên cố và vĩ đại ấy mà Tây Âu khiếp sợ và Hoa Kỳ không dám thốt một lời
cản ngăn khi Hồng quân tràn qua Hung-Gia-Lợi và Tiệp Khắc đè bẹp cuộc
nổi dậy của hai dân tộc này, Nga Sô ấy đã tan biến trong khoảnh khắc khi
dân chúng ở Moscou đứng lên đòi giải thể chế độ, khi họng súng của một
chiến xa đi đầu thay vì nhả đạn vào đám đông, đã được cắm vào một cánh
hoa hồng và những người lính tuổi hai mươi non trẻ đã ôm chầm những
người phản kháng, nước mắt tự do tuôn rơi trên má. Các chế độ chư hầu
đều cùng một số phận và cùng một lộ trình tương tự ngoại trừ ở Roumanie
có máu đổ vì lãnh tụ độc tài cưỡng lại lòng dân nên bị xét xử lanh chóng
để một trang sử được lật qua.
Con đường đi tới tự do càng ngày càng mở rộng cho mọi dân tộc. Chỉ cần đứng dậy lên đường !
LS. LÊ TRỌNG QUÁT
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)